đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh

1- Luyện mẫu câu sau phần giới thiệu ngữ liệu mới và sau một vài phút luyện tập với cả lớp ( Giáo viên-cả lớp; nửa lớp-nửa lớp, cặp mở, cặp đóng ). 2- Luyện các bài hội thoại ngắn: đóng lại bài hội thoại, làm các bài hội thoại tương tự với gợi ý cho sẵn. 3- Các bài tập luyện giao tiếp. Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (viết tắt là PPLSTVĐM, tiếng Anh là Creativity and Innovation Methodologies) là phần ứng dụng của Khoa học về sáng tạo (Sáng tạo học, tên cổ điển - Heuristics, tên hiện đại - Creatology), gồm hệ thống các phương pháp và các kỹ năng Chúc mừng học viên Nguyên Đạt đạt IELTS 7.0 ngày thi 20/08/2022. 13/ 09/ 2022 0 Bình luận. 🎉 🎉🎉🎉 Ngoại ngữ Khoa Trí và Anh Ngữ Smart Learn chúc mừng em HUỲNH NGUYÊN ĐẠT đã đạt OVERBAND IELTS 7.0 trong kì thi IELTS ngày 20/8/2022 tại British Council Ho Chi Minh City. 🎊 🎊 🎊 🎊 Công trình nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học giáo dục; Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập; Sáng chế công cụ phục vụ giảng dạy và học tập, nghiên cứu; Ý Tưởng Đạt Giải; Câu Chuyện Thành Công; Tin Tức; Hướng dẫn nộp bài thi 3. Nâng cao nhận thức của đội ngũ về tự học, tự rèn, thường xuyên đổi mới hình thức và phương pháp dạy học. Lựa chọn các điển hình tiên tiến trong đổi mới hình thức và phương pháp dạy học để nhân rộng và bồi dưỡng. II. NỘI DUNG, HÌNH THỨC . 1. Cùng với việc đổi mới các môn học khác trong nhà trường, điểm nhấn trong năm học này của trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên là tiếp tục đổi mới phương pháp dạy môn tiếng Anh với nhiều hình thức hoạt động phong phú, sinh động, học sinh đi đâu, nhìn bất cứ chỗ nào trong nhà trường cũng được học và Vay Tiền Cấp Tốc Online Cmnd. Cùng với sự phát triển của xã hội và nhu cầu của cộng đồng, việc dạy và học tiếng Anh trong trường phổ thông nói chung đã có những thay đổi lớn về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy, kiểm tra và đánh giá. Không nằm ngoài xu hướng phát triển này, trong những năm học gần đây bộ môn tiếng Anh trường THPT Hoài đức B cũng đã tích cực triển khai các hoạt động đổi mới PPDH, KTĐG do cấp trên tổ chức, chỉ đạo. Qua đó nhận thức và trình độ của CBQL và GV trong trường được nâng cao, nhiều GV có ý thức sử dụng các PPDH và KTDH tích cực. GV chủ động khai thác các nguồn tư liệu tham khảo để sử dụng trong dạy học, có chú trọng đến việc tổ chức hoạt động của HS trong dạy học, khuyến khích HS trao đổi thảo luận với nhau và thảo luận với GV trong bài học. Bên cạnh đó nhiều GV tích cực sử dụng các TBDH, ứng dụng CNTT trong dạy học và KTĐG, kĩ năng KTĐG kết quả học tập của HS được nâng cao. HS đã tích cực, chủ động hơn trong hoạt dộng chiếm lĩnh kiến thức, ngoài hoạt động học trên lớp, HS đã chủ động trong việc tìm kiếm tài liệu tham khảo để tự học, tự rèn luyện, nhiều HS có kĩ năng tốt trong việc sử dụng CNTT, khai thác các nguồn học liệu trên mạng để chiếm lĩnh kiến thức, bước đầu HS đã có ý thức tự đánh giá kết quả học tập của mình và đánh giá lẫn nhau khi được yêu cầu. Một số hoạt động trong thời gian qua được giáo viên trong tổ nhóm tích cực tham gia như thao giảng, dự giờ, thực hiện nhiều chuyên đề khác nhau, thiết kế đồ dùng dạy học, chất lượng bộ môn cũng đã dần được nâng cao. Nhà trường đã khẳng định đổi mới phương pháp dạy học phải đồng bộ với đổi mới kiểm tra, đánh giá. Việc chỉ đạo và hướng dẫn triển khai đổi mới phương pháp, hình thức dạy học, kiểm tra đánh giá của Bộ GDĐT suốt giai đoạn vừa qua được đánh giá là “có tác động tích cực” tới chất lượng giáo dục trong nhà trường. “Chìa khóa thành công của trường THPT Hoài Đức B là những chỉ đạo của lãnh đạo các cấp về đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và kiểm tra đánh giá” – Cô giáo Hoàng Thị Quyên – Hiệu phó nhà trường đã nói. Chính việc thực hiện nghiêm túc theo chỉ đạo và hướng dẫn của Ban Giám hiệu nhà trường đã giúp nhóm ngoại ngữ được chủ động, sáng tạo thực hiện nhiều vấn đề về chuyên môn, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường nói chung và chất lượng giáo dục bộ môn tiếng Anh nói riêng. Nguyễn Thị Thu Hà Chủ đề 1 Định hớng đổi mới PPDH môn tiếng anh THCS1. Quan điểm đổi mới PPDHMục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hớng vào việc phát triển tính năngđộng, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết và giảiquyết vấn đề cho các em. Để đạt đợc mục tiêu này việc thay đổi PPDH theo h-ớng coi trọng ngời học, coi học sinh là chủ thể hoạt động, khuyến khích cáchoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của các em trong quá trình dạyhọc là rất cần dạy học ngọai ngữ, quan điểm này càng đúng vì không ai có thể thaythế ngời học trong việc nắm các phơng tiện ngoại ngữ và sử dụng chúng tronghoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của các em. PPDH ngoạingữ chọn giao tiếp là phơng hớng chủ đạo, năng lực giao tiếp communicativecompetences là đơn vị dạy học cơ bản, coi giao tiếp vừa là mục đích vừa làphơng tiện dạy học dạy học trong giao tiếp, bằng giao tiếp và để giao tiếp.PPDH này sẽ phát huy tốt nhất vai trò chủ thể, chủ động, tích cực của học sinhtrong việc rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ vì những mục đích thực tiễn và sángtạo. Học sinh cần phải đợc trang bị cách thức học tiếng Anh và ý thức tự họctập, rèn luyện. Ngời học là chủ thể, nếu không biết cách tự học thì sẽ khôngthể nắm vững tiếng nớc mới PPDH là quá trình chuyển từ thày thuyết trình, phân tích ngôn ngữ -trò nghe và ghi chép thành PPDH mới, trong đó thày là ngời tổ chức, giúp đỡhoạt động học tập của học sinh, còn học sinh là ngời chủ động tham gia vàoquá trình hoạt động học chí cơ bản của PPDH mới là hoạt động tự lập, tích cực, chủ động của họcsinh trong việc giải quyết các nhiệm vụ giao tiếp bằng ngoại ngữ. Tiêu chí chủyếu để đánh giá kết quả học tập của học sinh là năng lực giao tiếp, năng lựcứng xử bằng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ Bản chất của tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạyhọc ngoại ngữ Những biểu hiện tích cực đặc trng của học sinh trong hoạt động học tập bộmôn ngoại ngữ đợc thể hiện ở những mặt chủ yếu sau Học sinh có nhu cầu tiếp thu kiến thức, kĩ năng, vận dụng kĩ năng để giaotiếp, hứng thú làm việc với các tài liệu học tập. Từ chỗ có nhu cầu tiếp thu kiến thức, rèn luyện và vận dụng kĩ năng tronggiao tiếp, học sinh sẽ tự giác học tập, chủ động huy động vốn kinh nghiệmđã tích luỹ vốn từ, quy tắc ngữ pháp, để bắt chớc, tái hiện, tìm tòi cáchứng xử và ứng xử sáng tạo trong các tình huống giao tiếp. Học sinh chủ động lựa chọn kiến thức và thao tác t duy thích hợp để cónhững ứng xử ngôn ngữ cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. Học sinh biết bộc lộ nhận thức và sự hiểu biết của mình ra bên ngoài bằnglời nói, bài viết thông qua ngoại ngữ. Học sinh biết cách làm việc theo cặp, theo nhóm, hợp tác với bạn khi cầnthiết trong quá trình luyện tập ngôn ngữ theo yêu cầu và nhiệm vụ của thàygiao. Học sinh biết cách tự học, biết chủ động trình bày những ý định của mìnhthông qua giao tiếp nói hoặc đây là một số nét biểu hiện chính của PPDH mới. Đây cũng chính lànhững năng lực và phẩm chất mà ngời giáo viên cần phải hình thành và pháttriển ở học sinh trong quá trình học tập ngoại ngữ. 3. Nhng cn c ca i mi PPDH ngoi ngi mi PPDH cn phi cn c vo c im ca mụn ngoi ng v cim tõm sinh lý ca hc sinh Căn cứ vào đặc điểm của môn ngoại ngữ nói chung2- Quan điểm giao tiếp là quan điểm đặc thù của môn ngoại ngữ trong nhàtrờng. Quan điểm giao tiếp quy định tính giao tiếp của hoạt động dạyhọc ngoại Môn ngoại ngữ đòi hỏi nhận thức và giải quyết hợp lý mối quan hệ giữakiến thức ngôn ngữ và kĩ năng ngôn ngữ hai thành tố chủ yếu của nộidung dạy học. Kĩ năng là trung tâm, là mục đích cuối cùng của quá trìnhdạy học. Kiến thức là điều kiện, là phơng tiện, là nền tảng. Chỉ có kiếnthức mà không có kĩ năng thì không có khả năng giao tiếp, ngợc lại, chỉcó kĩ năng mà không có kiến thức thì khả năng giao tiếp bị hạn chế vàkhông phát triển Dạy học ngoại ngữ thực chất là hoạt động rèn luyện năng lực giao tiếpdới các dạng nghe, nói, đọc, viết. Muốn rèn luyện đợc năng lực giao tiếpcần có môi trờng với những tình huống đa dạng của cuộc sống. Môi trờngnày chủ yếu do giáo viên tạo ra dới dạng những tình huống giao tiếp vàhọc sinh phải tìm cách ứng xử bằng ngoại ngữ cho phù hợp với từng tìnhhuống giao tiếp cụ thể. - Học ngoại ngữ, học sinh đồng thời tiếp cận với đất nớc, nền văn hoá xalạ. Mức độ tiếp cận thông tin càng cao thì việc dạy học càng thuận này đòi hỏi nhiều thiết bị dạy học nghe - nhìn, nghe nói vànhiều hình thức dạy học linh Mục đích của việc dạy học ngoại ngữ không nhằm hớng học sinh vàoviệc nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ, mà nhằm giúp các em sử dụng hệthống ngôn ngữ đó nh một công cụ giao tiếp, nghĩa là nhằm rèn luyện chohọc sinh năng lực giao tiếp. Năng lực giao tiếp này đợc biểu hiện bằngkhả năng sử dụng sáng tạo những quy tắc ngôn ngữ để thực hiện giao tiếptheo tình vậy, mục đích cuối cùng của việc học ngoại ngữ không phải là biết hệthống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà là biết sử dụng hệ thống đó để đạt đợcmục đích giao tiếp. Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Khi học ngoại ngữ, học sinh THCS có nhiều điểm khác với học sinh tiểu họcở những mặt sau- Suy nghĩ nhanh nhạy trong nhận thức kiến thức ngôn ngữ ngữ âm, từ vựng,ngữ pháp. - Khả năng tởng tợng linh hoạt, logic hơn; nhất là dễ dàng liên tởng và sosánh sự giống nhau và khác nhau giữa ngoại ngữ với tiếng mẹ Khả năng ghi nhớ, tái hiện các mẫu lời nói và khả năng diễn đạt bằng ngoạingữ tiếng Anh lu loát và bền vững hơn, phản xạ ngôn ngữ Rất hứng thú và tích cực trong hoạt động luyện tập phát triển kĩ năng ngônngữ, nhất là 2 kĩ năng nghe và nói, nhng cũng rất dễ chán nản trong việcluyện tập phát triển các kĩ năng phức tạp, ví dụ nh kĩ năng đọc hiểu vì gặpnhiều từ mới, trừu tợng và khó đoán nghĩa; hoặc nh kĩ năng viết vì cảmthấy khó diễn đạt suy nghĩ, ý tởng cá nhân bằng ngôn ngữ Nhìn chung học sinh THCS tuy hào hứng, có ý thức muốn nắm bắt và sửdụng đợc ngoại ngữ nhng khả năng độc lập trong học tập cha tốt ví dụcòn rụt rè, không tự tin và sợ mắc lỗi trong khi nói. Học sinh ít có cơ hộiđể luyện tập, hơn nữa lại thiếu kiên trì trong rèn luyện phát triển kĩ năngngôn ngữ nên kết quả học tập thờng bị hạn chế, dễ nản chí và bỏ cuộc. Vìvậy các em cần phải thờng xuyên đợc sự khuyến khích, động viên kịp thờicủa giáo viên, và đặc biệt cần có sự hỗ trợ của các phơng pháp dạy họcthích hợp để củng cố, ổn định và nâng cao hiệu quả học tập ngoại ngữ củacác Gii phỏp i mi PPDH ting Anh trng THCS 4PPDH ting Anh theo nh hng tớch cc hoỏ hot ng hc tp Ngy nay, ngi ta c bit quan tõm ti vic ỏp dng phng phỏp Giao tipvo quỏ trỡnh ging dy ting Anh. Giỏo viờn luụn luụn coi trng vic hỡnhthnh v u tiờn phỏt trin cỏc k nng giao tip nghe, núi, c v vit. ngthi, vic cung cp kin thc ngụn ng ng õm, t vng v ng phỏp lquan trng, gúp phn hỡnh thnh v phỏt trin cỏc k nng giao tip. Chớnh vỡvy, phng phỏp Giao tip, chng mc nht nh, ó phỏt huy c uim ca nú, thc s giỳp cho hc sinh cú kh nng s dng c ting Anh giao ỏp dng phng phỏp Giao tip cú s kt hp vi cỏc phng phỏpdy hc khỏc trong quỏ trỡnh ging dy ting Anh THCS c thc hinnh sauCả 4 kỹ năng ngôn ngữ nghe, nói, đọc và viết đều đợc quan tâm và đợc phốihợp trong các bài tập và các hoạt động trên năng nghe luôn đợc sử dụng phối hợp với kỹ năng đọc để giới thiệu ngữliệu hoặc nội dung bài học mới. Ngoài ra, kỹ năng nghe còn đợc rèn luyệntừng bớc thông qua các bài tập nghe khác nhau nh nghe lấy ý chính, nghe hiểucác thông tin chi tiết, nghe để đoán nghĩa qua ngữ cảnh, năng nói đợc dạy phối hợp với ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, chức năng ngônngữ và với các kỹ năng khác, thông qua các bài hội thoại/ mẫu hội thoại ngắnhoặc các nội dung chủ điểm của năng đọc, ngoài ý nghĩa đợc sử dụng làm phơng tiện giới thiệu nội dung vàngôn ngữ mới, còn đợc phát triển thông qua các bài tập đọc có mục đích khácnhau nh đọc hiểu nội dung chi tiết, đọc lớt, đọc lấy ý chính, đọc tìm thông tincần thiết, vv; với các loại bài khoá có văn phong khác nhau nh văn bản viết,văn bản nói, bài hội thoại, bài văn xuôi, bài văn vần, quảng cáo, bảng biểu,mẫu khai, vv...5Kỹ năng viết cơ bản đợc dùng để củng cố vốn ngữ liệu đã đợc học. Ngoài ra,còn có những bài tập dạy viết có mục đích nh viết th cá nhân, điền các mẫukhai, viết báo cáo ở dạng đơn giản, viết một đoạn văn ngắn có gợi ý, dựa vàobài đã học về một chủ điểm, hay bày tỏ quan điểm về một nhận định hoặc ýkiến đa liệu mới đợc giới thiệu theo chủ điểm và thông qua hoạt động nghe vàđọc; sau đó đợc luyện tập thông qua cả 4 kỹ năng. Có nghĩa là sẽ không có cácmục dạy tách biệt cho ngữ âm, ngữ pháp hay từ vựng trong từng bài học màcác yếu tố ngôn ngữ sẽ đợc dạy lồng ghép với nhau và phối hợp với việc pháttriển các kỹ năng. Cụ thể làNgữ pháp đợc xuất hiện theo chủ đề và tình huống của bài học và đợc luyệntập trong ngữ cảnh; sau đó đợc chốt lại một cách có hệ thống sau một số bàihọc và ở cuối sách giáo khoa. Các bài tập chuyên sâu về hình thái cấu trúc ngữpháp sẽ đợc luyện tập một cách có hệ thống trong sách bài tập kèm theo cuốnsách giáo vựng cũng đợc xuất hiện tự nhiên theo các chủ đề nhằm đạt đợc mức độngữ cảnh hoá cao, giúp học sinh dễ tiếp thu và nhớ lâu. Các bài tập sử dụng từvựng thờng đợc phối hợp với các bài tập ngữ pháp và các bài tập nghe, nói,đọc, âm đợc coi là một bộ phận mật thiết gắn liền với các hoạt động lời nói, đ-ợc dạy và luyện tập gắn liền với việc dạy từ mới, dạy ngữ pháp, dạy nghe vàdạy thống các bài tập và hoạt động dạy học đợc thiết kế theo trình tự dạy họcđi từ giới thiệu ngữ liệu, luyện tập có hớng dẫn đến vận bài tập và hoạt động dạy học chú trọng khuyến khích học sinh áp dụngngữ liệu đang học với các kiến thức có sẵn để diễn đạt các nội dung khác nhautrong chính đời sống thực tế của các em. Hệ thống bài tập đặc biệt chú trọngnhững nguyên tắc dạy học cơ bản trong quan điểm dạy học giao tiếp để biên6soạn các loại hình bài tập nh nguyên tắc chuyển đổi thông tin informationtransfer, nguyên tắc tạo khoảng trống thông tin information gap, haynguyên tắc cá thể hoá personalization, nhằm không những giúp học sinh nắmđợc hệ thống cấu trúc ngữ pháp mà còn biết ứng dụng để diễn đạt các nộidung giao tiếp trong các tình huống cụ thể trong đời sống thật của học Vận dụng một số PPDH theo định hớng đổi mới Trong dy hc ngoi ng ngi ta ỏp dng nhiu phng phỏp dy hc nhphng phỏp Ng phỏpDch, phng phỏp NgheNhỡn, phng phỏp Nghe- Núi, phng phỏp Giao tip, Di õy l trỡnh by túm tt v mt s phng phỏp dy hc ca b mụnnhm giỳp cho giỏo viờn cú ti liu tham kho v cú th ỏp dng trong quỏtrỡnh i mi phng phỏp dy hc trng trung hc c Phng phỏp Ng phỏp Dch Phng phỏp Ng phỏp Dch Grammar Translation Method hay cũngi l phng phỏp Truyn thng c ỏp dng mnh m Vit Nam vonhng nm 1970 cho n tn nhng nm 1990. V bn cht, theo phng phỏp ny, chng trỡnh tp trung ch yu vo phỏttrin k nng c hiu, hc thuc lũng t vng, dch vn bn, vit luncomposition v phõn tớch ngụn ng hc nm chc quy tc ngụn ng.Quy trỡnh thc hin Cỏc bi khúa texts c biờn son v chia ra thnhtng on ngn. Vic ging gii quy tc ngụn ng l c bn. Hc sinh chc v ng phỏp rt k trờn c s cỏc hin tng ng phỏp c bn c rỳt rat cỏc bi khúa. kim tra s thụng hiu v ni dung bi khúa ni dungvn húa, t nc hc núi chung v cỏc quy tc ngụn ng, HS bt buc phidch cỏc bi khúa sang ting mẹ đẻ. HS khụng c phộp mc li ngụn ng,nu cú phi sa ngay. u iểm7- HS được rèn luyện rất kĩ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn. - HS nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạnvăn hay hoặc bài khóa mẫu. - HS có thể đọc hiểu nhanh các văn bản. Hạn chế- Không giúp HS “giao tiếp” được. Hoạt động chủ yếu trong lớp là ngườithày- thày giảng giải, nói nhiều; HS thụ động ngồi nghe và ghi chép, khôngcó ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp nói với thày và bạn bè. - Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều - HS hoàn toàn bị động, không cócơ hội thực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kĩ năngnãi của HS bÞ h¹n chÕ. Một số lưu ý- Ở chừng mực nào đó, GV vẫn có thể áp dụng Phương pháp Truyền thống,ví dụ khi muốn kiểm tra sự hiểu chính xác về một văn bản đoạn văn, câuthơ…trong bài đọc hiểu hoặc một cấu trúc câu phức tạp khác với cấu trúccâu trong tiếng Việt, GV có thể yêu cầu HS dịch sang tiếng Việc kiểm tra sự thông hiểu qua hoạt động dịch không nên tiến hànhthường xuyên vì sẽ tạo thói quen cho HS phải tư duy qua tiếng mẹ đẻ tiếngViệt trước khi phát ngôn. Như vậy sẽ cản trở sự lưu loát fluency của HStrong giao tiếp. Ví dụ minh họa Việc đánh giá kết quả học tập của HS thông qua các hoạtđộng trả lời các câu hỏi về nội dung các bài khóa; dịch các bài khóa, cácđoạn văn trích dịch sang tiếng Việt, và dịch ngược sang tiếng Anh; thựchành các bài tập ngôn ngữ máy móc thường là luyện tập các mẫu câu. GVgiữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học, có nhiệm vụ chuẩn bị bài khóa,câu hỏi và các bài tập ngữ pháp, giảng giải qui tắc ngôn ngữ. HS được yêu8cầu tập đọc bài khóa, học thuộc lòng từ vựng, các đoạn văn mẫu và giảithích một cách tường minh hiện tượng ngữ Phương pháp Nghe – Nói Về bản chất Phương pháp Nghe - Nói Audiolingual Method or Audio-OralMethod nhấn mạnh vào việc dạy kĩ năng nói và kĩ năng nghe trước kĩ năngđọc và kĩ năng viết. Như vậy, khác với phương pháp Ngữ pháp – Dịch,phương pháp này đáp ứng đúng mục tiêu cần đạt của người học là hìnhthành và phát triển cả bốn kĩ năng, nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trướcđọc và cung cấp kiến thức ngôn ngữ ngữ âm, từ vựng, ngữ phápđược thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học. Phương pháp Nghe-Nóingăn cấm việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích tối đa dùng tiếngAnh trong quá trình dạy học. Quy trình thực hiện Luôn luôn nhấn mạnh phát triển hai kĩ năng nói và nghe là chủ yếu. Việcdạy học thông qua thực hành cấu trúc câu structures và qua các bài tập ứngdụng, người học tự phát hiện và tìm hiểu những điểm giống nhau so vớitiếng mẹ đẻ về cấu trúc câu, cách phát ngôn và đưa ra các qui tắc ngôn cầu người học bắt trước mẫu do người dạy cung cấp, ví dụ các bài/mẩuđối thoại mẫu dialogues có chứa cấu trúc câu hoặc hiện tượng ngôn ngữcần truyền đạt. HS luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói quenngôn ngữ theo các hình thức như hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thựchành thêm một số bài tập cấu trúc thay thế, bổ sung, chuyển đổi ….Phương pháp này đòi hỏi GV chú ý sửa lỗi cho HS lỗi phát âm, lỗi cấutrúc. Các bài đối thoại mẫu cần phải chuẩn mực, các bài nghe cần đượcluyện tập kÕt hîp víi thùc hµnh nãi. Sau khi đã lĩnh hội tài liệu bằng khẩungữ, HS tiếp tục luyện tập để hình thành và phát triển kĩ năng đọc và kĩ năngviết. 9 Ưu điểm- Phương pháp này có hiệu quả đối với những người mới học, đặc biệt là HStiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS. HS cảm thấy phấn khởi và tự tin khiđược nghe và tập bắt chước theo giáo viên, ví dụ HS làm theo lệnh của GVhoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản. Hạn chế- §ối với HS có trình độ cao việc học theo phương pháp này sẽ nhàm chánnếu không có sự điều chỉnh phương thức dạy học cần thiết. - HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếpngôn ngữ là khó. Các em không thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ cácmẫu lời nói được luyện tập trên lớp một cách tự nhiên vì tuy HS có khảnăng nghe hiểu, nhớ và bắt chước nói theo ngay tại chỗ trong lớp học, songcác em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tươngtự trong giao tiếp thực; tức là không diễn đạt được những gì định nói mặc dùsau một thời gian dài học tập. Người ta cảm thấy nghi ngờ về tính hiệu quảcủa phương pháp này so với phương pháp Ngữ pháp-Dịch. Tuy nhiên, HS cóthể nghe và nói thuần thục nếu các em được rèn luyện trong môi trườngngoại ngữ language environment mà điều kiện này bị hạn chế ở trườngTHCS. Một số lưu ý Lớp học không nên quá đông không quá 35 HS/lớp. Giờ học nên được tiếnhành ở các phòng học tiếng có thiết bị nghe chuẩn; hoặc GV cần chuẩn bịbăng cát-sét/ đĩa CD ghi âm các bài đối thoại mẫu có chất lượng cao để đảmbảo cho HS có thể nghe hiểu và thực hành nói đạt hiệu quả. Đối với HS tiểuhọc hoặc HS đầu cấp THCS, GV nên chuẩn bị nhiều tranh ảnh để tạo tìnhhuống giao tiếp; chú ý tổ chức các hoạt động ngôn ngữ khác nhau như tròchơi, câu đố… để gây không khí thoải mái trong học tập cho các em. 10 Ví dụ minh họa HS tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS có thể được nghe các mẫu đối thoạichứa cấu trúc câu thông thường như hỏi và trả lời về thời tiết, ví dụ What’sthe weather like? It’s cold hot/sunny/rainy etc.. HS cần phải được GV làmrõ ý nghĩa bằng giải thích, cho ví dụ hoặc thậm chí phải dịch sang tiếngViệt nếu cấu trúc câu không có trong tiếng mẹ đẻ, ví dụ đại từ “it” dùng đểchỉ thời tiết và hiểu được cách sử dụng cấu trúc câu, cách phát âm, ngữ điệucâu hỏi xuống giọng. HS có thể vận dụng hỏi-trả lời về thời tiết trong cáctình huống gợi ý ví dụ các tranh vẽ trời nóng/lạnh/ấm… hoặc trong tìnhhuống thật ở các địa danh khác nhau dựa vào bản tin dự báo thời tiết trênTV; ví dụ What’s the weather like in Hanoi/Hue/ Ho Chi Minh City…?It’s......5. 3 Phương pháp Giao tiếp Phương pháp Giao tiếp Communicative Approach hay còn gọi là Đườnghướng Giao tiếp được xem như phương pháp dạy học ngoại ngữ phổ biếnnhất và hiệu quả nhất hiện nay. Hầu hết các giáo trình, SGK phổ thông tiếngAnh ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam đều được biên soạn dựa theoquan điểm giáo học pháp của Phương pháp Giao tiếp. Phương pháp này docác nhà ngôn ngữ ứng dụng người Anh phát triển hoàn toàn khác biệt vớiphương pháp dựa trên nền tảng ngữ pháp của Phương pháp Truyền thống. Về bản chất Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào mục tiêu của việc họcngôn ngữ - đó là năng lực giao tiếp communicative competence. Người tacoi năng lực ngôn ngữ là khả năng bẩm sinh của mọi con người bình giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương diện xãhội, văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngônngữ, và tính đến ngôn ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra,phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩa của ngôn ngữ, hay11nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp intention ofcommunication. Khái niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi là chức năngngôn ngữ language function. Như vậy, theo Phương pháp Giao tiếp ngônngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn là phương tiện giaotiếp. Mục đích cuối cùng của người học ngoại ngữ không chỉ tiếp thu và nắmchắc kiến thức ngôn ngữ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà cần phải đạt đượcnăng lực khả năng giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kĩ năng ngônngữ nghe, nói, đọc, viết và sử dụng được ngôn ngữ để giao tiếp. Quy trình thực hiện Xuất phát từ bản chất của Phương pháp Giao tiếp, tài liệu giảng dạy theođường hướng này cần được thiết kế để đáp ứng nhu cầu giúp người học cóthể thực hiện được các chức năng ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn như xinphép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì; mô tả sự vật; bày tỏ sự quan tâm,thích thú hoặc không thích …. Để giao tiếp hiệu quả, người học cần phải sử dụng các hình thức ngôn ngữthích hợp với tình huống giao tiếp situations, trong đó yêu cầu người thamgia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp intention thông qua việcthực hiện các nhiệm vụ khác nhau tasks.Tiến trình giảng dạy diễn ra theo 5 bước - Giới thiệu ngữ liệu presentation - Thực hành bài tập Exercises- Hoạt động giao tiếp Communicative activities - Đánh giá Evaluation - Củng cố Consolidation.Ưu điểm12Phương pháp Giao tiếp có ưu điểm hơn hẳn các phương pháp khác là nó baotrùm mọi phương diện của quá trình dạy học ngoại ngữ đó là các yếu tố ngônngữ, văn hóa, xã hội, các yếu tố ngoài ngôn ngữ… nhằm rèn luyện kĩ nănggiao tiếp hoàn chỉnh. Đặc biệt Phương pháp Giao tiếp coi hình thành và pháttriển bốn kĩ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối cùngcủa quá trình dạy học. Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữpháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kĩ năng giao vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS có khả năng sử dụngđược tiếng Anh để giao chếPhương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển 4 kĩ năngngôn ngữ nghe, nói, đọc, viết trong quá trình dạy học, trong đó kiến thứcngôn ngữ ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp không được quan tâm một cáchthích đáng. Kết quả là một số HS cảm thấy khó có thể “giao tiếp” vì HS làmsao có thể nghe, nói, đọc, viết được một khi các em không nắm chắc hệ thốngqui tắc ngôn ngữ. Mặt khác, theo quan điểm của phương pháp này, quan hệgiữa ý định giao tiếp bao gồm các hành động lời nói hay là các chức năngngôn ngữ học được và hiện thực là quá phức tạp, không rõ ràng. Nói mộtcách khác, người ta khó có thể lựa chọn các phát ngôn theo chức năng phùhợp với nhu cầu giao tiếp thực tế đa dạng và rất phức tạp. Một số lưu ý GV giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức thùc hiện. HS đóng vai trò chủđạo trong quá trình dạy học; tức là phải phát huy cao độ tính tích cực của cácem trong luyện tập thực hành. Ở trường THCS líp 8 vµ 9, HS cần tập trungrèn luyện sâu từng kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Muốn thực hiện được, cá nhânHS phải tích cực và tự giác tham gia thực hành, không sợ mắc lỗi, và cần lưu13ý rng lu loỏt ngụn ng fluency trong giai on ny l rt quan kin ti thiu HS thc hnh k nng ngụn ng l mi lp hc khụngquỏ ụng khong 35 HS/lp; cú y thit b nghe nhỡn nh mỏy cỏt-sột,bng/a CD, tranh tỡnh hung. Vic kim tra ỏnh giỏ kt qu hc tp nờnnhn mnh vo 4 k nng, v mt phn nh kin thc ngụn ng. Kim tra knng ngụn ng luụn luụn c u tiờn trong bt k hỡnh thc no. Khi vn dng Phng phỏp Giao tip, GV cn lu ý Giảm thiểu tối đa thời gian nói trên lớp của GV, tăng thời gian sử dụngngôn ngữ cho HS. Dạy học theo phơng pháp gợi mở GV chỉ gợi mở và dẫn dắt để HS tự tìmra lời giải đáp hoặc con đờng đi của mình. Động viên tất cả kiến thức sẵn có về văn hoá, xã hội cũng nh ngôn ngữ củaHS trong luyện tập ngôn ngữ. Có thái độ tích cực đối với lỗi ngôn ngữ của HS. Chấp nhận lỗi nh mộtphần tất yếu trong quá trình học ngoại ngữ, giúp HS học tập đợc từ chínhlỗi của bản thân và bạn bè. Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện tập product màcòn chú trọng đến cả quá trình process luyện tập và phơng pháp học tậpcủa d minh haPhng phỏp Giao tip ũi hi ngi hc phi s dng cỏc hỡnh thc ngụnng thớch hp vi tỡnh hung giao tip situations, trong ú yờu cu ngitham gia giao tip phi th hin c ý nh giao tip intention thụng quavic thc hin cỏc nhim v khỏc nhau tasks. Vớ d, trong phn gii thiung liu ca Unit 4 lp 9; Mc 2. Listen and Read, HS c gii thiu c14về chủ đề bài học kinh nghiệm học ngoại ngữ và kiến thức ngôn ngữtường thuật câu nói từ trực tiếp sang gián tiếp dạng câu khẳng định và câuhỏi trong tình huống đối thoại Lan nói chuyện với Paola, một nữ sinhngoại quốc về bài thi nói tiếng Anh mà Lan vừa tham dự. Nhiệm vụ taskmà HS phải thực hiện là Nghe, luyện đọc bài hội thoại và tìm ra các câu hỏigián tiếp mà ban giám khảo hỏi Lan phần a.. GV dùng tình huống trong bàiđối thoại để làm rõ nghĩa dạng câu hỏi theo cách nói gián tiếp của 2 loạitường thuật câu hỏi, ví dụ- She asked me what my name was, and where I came She asked me if I spoke any other languages. Bước tiếp theo, GV cho HS luyện tập qua việc yêu cầu HS đọc bảng danhsách câu hỏi trực tiếp thi vấn đáp tiếng Anh của ban giám khảo để so sánhvà xác định với các câu hỏi gián tiếp trong bài đối thoại phần b.; sau đó HSluyện tập đối thoại trực tiếp theo cặp đóng vai Lan và người giám khảo.Mục đích là củng cố hình thái loại câu hỏi trực tiếp cho HS trước khi cho cácem luyện tập đổi sang câu hỏi gián tiếp theo là hoạt động giao tiếp mang tính tự do hơn. GV có thể yêucầu HS dựa vào bài đối thoại giữa Lan và người giám khảo để đóng vai Lanvà Paola tập nói lại nội dung các câu hỏi trực tiếp đó ở dạng câu hỏi giántiếp như bài đối thoại trong phần giới thiệu ngữ liệu.Để tăng cường giao tiếp ở mức hoàn toàn tự do mang tính sáng tạo, GV cóthể yêu cầu HS luyện tập phỏng vấn theo cặp theo các tình huống do giáoviên gợi ý; sau đó HS đại diện cho mỗi cặp tường thuật lại các câu hỏi ởdạng gián tiếp. Như vậy, ví dụ trên cho thấy việc dạy kiến thức ngôn ngữ câu hỏi gián tiếpđược giới thiệu thông qua tình huống giao tiếp, vừa đảm bảo việc truyền tảiđược hiện tượng ngôn ngữ theo văn cảnh có nghĩa, vừa bám sát nội dung15chủ đề của bài học. Điều quan trọng là HS được luyện tập và có thể vậndụng vào các tình huống giao tiếp tương dông thiÕt bÞ d¹y häc xem phô lôc 1 16Chủ đề 2 kĩ thuật mở bài, giới thiệu ngữ liệu mới, Luyện tập ngữ pháp 1. Mở bài - Gây không khí học tậpĐể có đợc một giờ dạy thành công, ngay ở bớc hoạt động đầu tiên của một giờdạy là bớc mở bài, giáo viên cần tạo ra đợc một không khí học tập thuận lợi vềcả mặt tâm lý lẫn nội dung cho hoạt động dạy học tiếp theo đó. Những hoạt động gây không khí học tập này thờng rất ngắn 5 -7 phút nhngvô cùng quan trọng. Vậy mở bài nên làm những gì và làm thế nào để có thểthực hiện đợc các mục đích đó? Các hoạt động mở bàiCác hoạt động mở bài nhằm một số mục đích sau ổn định lớp, cho phép học sinh có một thời gian để thích nghi với bàihọc mới; tạo môi trờng thuận lợi cho bài học mới; gây hứng thú cho bài học mới; giúp học sinh liên hệ những điều đã học với bài học mới; chuẩn bị về kiến thức cần cho bài học mới; tạo tình huống, tạo ngữ cảnh cho phần giới thiệu bài tiếp theo; tạo nhu cầu giao tiếp, hay tạo mục đích cho một hoạt độnggiao tiếp kế Các hình thức và thủ thuật vào bàiTuỳ theo mục đích và đặc thù của giờ dạy, đồng thời tuỳ theo đối tợng họcsinh cụ thể của mình, giáo viên có thể lựa chọn những hoạt động hay thủ thuậtvào bài cho phù viên có thể tham khảo một số gợi ý sau Tạo môi trờng thuận lợi cho bài họca Thiết lập không khí dễ chịu giữa thày và trò ngay giờ phút vào lớp 17 chào hỏi học sinh; tự giới thiệu về mình; hỏi chuyện thông thờng tự nhiên; kể chuyện vui...b Tạo thế chủ động, tự tin cho học sinh thăm hỏi học sinh; tạo cơ hội cho học sinh đợc giới thiệu/nói về mình, hỏi cáccâu hỏi đáp lạic ổn định lớp, tập trung sự chú ý, gây hứng thú bằng cách bắt đầu ngay bằngmột hoạt động học tập nào đó liên quan đến bài học, ví dụ A short listening task a funny story; Observing a picture then ask and answer questions about thepicture; A riddle A language game crosswords, noughts and crosses, etc A challenging task on vocabulary, Chuẩn bị tâm lý và kiến thức cho bài học mới a Khai thác kiến thức đã biết của học sinh bằng thủ thuật gợi mở eliciting,hay nêu vấn đền để cả lớp đóng góp ý kiến brainstorming. b Liên hệ những vấn đề của bài cũ có liên quan đến bài mới, có thể bằng cáchình thức khác nhau nh hỏi các câu hỏi có liên quan; ra bài tập về các nội dung đã học có liên quan; sử dụng một trong những hoạt động gây hứng thú và ổn định lớpkể trên, dùng vốn kiến thức và nội dung bài cũ;c Tạo ngữ cảnh, tình huống hoặc các cớ/lý do giao tiếp Communicativeneeds cho các hoạt động tiếp theo của bài. Có thể dùng các hình thức nh18 giáo cụ trực quan đồ vật, tranh, bu ảnh.. các mẩu chuyện có thật hoặc tự tạo các bài đọc ngắn các bài tập hoặc câu hỏi, vvLu ýTrong thực tế, những hoạt động và thủ thuật dùng cho phần mở bài có thểcùng một lúc đáp ứng đợc nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, giáo viênnên tìm cách sáng tạo để có đợc một cách vào bài sao cho cùng một lúc cóthể đáp ứng đợc nhiều nhiệm vụ đặt ra ở phần mở bài. Ví dụ, ngay khi bớcvào lớp, giáo viên có thể bắt đầu bài bằng một hoạt động nêu vấn đề và giảiquyết vấn đề problem- solving, hoặc khai thác vốn kiến thức có sẵn củacả lớp về một nội dung có liên quan đến bài cũ và bài mới brainstorming.Bằng cách đó, giáo viên đã cùng một lúc gây đợc sự chú ý, gây hứng thúcho bài học, ổn định đợc lớp, kiểm tra, ôn lại đợc bài cũ, đồng thời cũng đãgiúp cho học sinh chuẩn bị đợc tâm lý và kiến thức cần thiết cho bài đã đề cập, mục đích của các hoạt động mở bài là để học sinh làmquen và cảm thấy hứng thú với chủ đề sắp học trong bài, đồng thời ônluyện lại những kiến thức đã học có liên quan đến bài mới hoặc để giáoviên tạo những nhu cầu giao tiếp cần thiết cho các hoạt động của bàimới. Với ý nghĩa đó, phần mở bài đôi khi không có ranh giới cụ thể màluôn đợc tiến hành phối hợp với phần giới thiệu ngữ Các hoạt động mở bài trong chơng trình sách giáo khoa mớiTrong chơng trình sách giáo khoa mới THCS, giáo viên có thể sử dụngcác thủ thuật và bài tập có sẵn trong sách giáo khoa ví dụ nh đối vớisách chơng trình lớp 8 và lớp 9 hoặc GV tự sáng tạo ví dụ, với chơngtrình lớp 6 và lớp 7. Có thể sử dụng các thủ thuật nhDựa vào tranh ở mục đầu của bài, hỏi, gợi ý về chủ đề mới19- Sử dụng tranh ảnh, bản đồ, vật thực tự chuẩn bị thay cho tranh trongsách để gây hấp Hỏi các kiến thức bài cũ có liên quan đến bài mới. - Khai thác các kiến thức có sẵn của học Liên hệ đến thực tế của chính học sinh, của địa phơng hay các tìnhhuống gần gũi với học sinh và thay thế các tình huống trong sách nếucần. Khi tiến hành phần này, giáo viên cần chú ý một số điểm sau Có thể sử dụng cả tiếng Anh và tiếng Việt. Cần tạo cơ hội cho học sinh hỏi lại giáo viên hoặc hỏi lẫn nhau để gâyhứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh. Luôn quan tâm đến tâm lý lứa tuổi và sở thích của học sinh để đa ranhững thủ thuật phù hợp, ví dụ nh kích thích trí tò mò, yêu cầu đoántranh, đoán câu trả lời Cần chú ý thay đổi hình thức mở bài để gây hứng thú cho học Giới thiệu ngữ liệu mớiGiới thiệu ngữ liệu mới là làm rõ nghĩa, cách phát âm, cấu trúc hình thái, và cáchdùng của một mục dạy nào đó trong một ngữ cảnh nhất định. Mục dạy có thể làcác mẫu lời nói, từ vựng hay ngữ pháp, hoặc một nội dung chủ điểm nào đó, th-ờng đợc giới thiệu thông qua một bài hội thoại hay một bài khoá, hoặc những tìnhhuống có sự hỗ trợ của giáo cụ trực quan. Với phơng pháp dạy học mới, công việc giới thiệu ngữ liệu không còn thuần tuýchỉ là việc thày giải thích nghĩa của từ mới mà phần lớn giáo viên thờng thựchiện bằng cách cho nghĩa tiếng Việt và giải thích các quy tắc ngữ pháp và cácmẫu câu. ở phần này, ngời giáo viên còn cần phải đồng thời làm rõ cách sử dụng20của các mẫu câu hoặc từ mới đó trong ngữ cảnh. Chỉ khi đợc giới thiệu trong ngữcảnh, nghĩa và cách sử dụng của các ngữ liệu cần dạy mới đợc làm sáng tỏ. Nhvậy, nội dung cần giới thiệu ở bớc giới thiệu ngữ liệu là Hình thái Form pronunciation; spelling; grammar Ngữ nghĩa Meaning Cách sử dụng UseMột đặc điểm nổi bật của phơng pháp mới trong việc giới thiệu ngữ liệu là phơngpháp mới rất chú trọng tới việc phải làm sao cho học sinh tiếp thụ bài học khôngchỉ qua nghe thụ động mà còn đợc vận động trí óc, chủ động tham gia vào quátrình của họat động này qua nhiều hoạt động ngôn ngữ khác nhau. Có nhiều cách/ thủ thuật giới thiệu ngữ liệu. Sau đây là một số thủ thuật giớithiệu ngữ liệu mà các giáo viên có thể tham khảo để ứng dụng cho bài dạy cụ thểcủa Các thủ thuật tạo dựng tình huống. setting up situations/ contextsa. Dùng môi trờng, đồ vật thật trong lớp, trong trờng;b. Sử dụng những tình huống thật trong lớp;c. Dùng các tình huống thật trong đời sống thật của hoc sinh;d. Dùng các câu chuyện có thật, các hiện tợng thật trong thực tế;e. Sử dụng các bảng biểu, bản đồ, bảng tin, báo chí;f. Sử dụng tranh, ảnh, giáo cụ trực quan;g. Sử dụng ngôn ngữ học sinh đã biết;h. Sử dụng các bài hội thoại ngắn;i. Sử dụng tiếng mẹ đẻ;k. Phối hợp một hay nhiều cách Giới thiệu hình thái ngôn ngữSau khi dùng ngữ cảnh để giới thiệu nghĩa và cách dùng của các mục dạy, lúc nàygiáo viên có thể làm rõ hình thái cấu trúc, các quy tắc ngữ pháp nếu có để họcsinh nhớ đợc dễ hơn và hệ thống hoá đợc những ngữ liệu đã học. Giáo viên có thể21gợi ý cho học sinh tự nhận xét và lập thành mẫu câu hoặc lập ra các công thức Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh. Checking comprehensionSau khi giáo viên đã giới thiệu làm rõ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu mới,cần thực hiện việc kiểm tra mức độ tiếp thu bài của học sinh để qua đó biết đợchọc sinh đã thực sự hiểu bài cha, mức độ hiểu đến đâu, để trên cơ sở đó có thể kịpthời bổ xung bài giảng nếu cần. Việc kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh ở phần giới thiệu ngữ liệu này có thểđợc thực hiện thông qua một số bài tập thực hành nh Học sinh ứng dụng mẫu câu vừa học vào các tình huống tơng tự khác giáoviên đa ra; thực hiện một số bài tập lắp ghép; xây dựng các bài hội thoại ngắn theo mẫu bằng cách lắp ghép những từ,đoạn câu gợi ý; thực hiện các bài tập hỏi /trả lời theo dạng câu hỏi đóng hoặc các câu hỏitrắc nghiệm đúng sai comprehensive questions, True/False questions dịch ra tiếng Việt nếu phù hợp và cần thiết Tóm tắt các bớc giới thiệu ngữ liệu mớiCác bớc giới thiệu ngữ liệu mới có thể đợc tóm tắt theo một tiến trình nh sau1 Giới thiệu ngữ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu cấu trúc ngữ pháp/ từmới/ mẫu câu chức năng qua tình huống, ngữ cảnh, mẫu hội thoại, tranhảnh...2 Nêu bật cấu trúc/ từ/ mẫu câu chức năng mới bằng cách đọc to cho họcsinh nghe nhắc lại hoặc bằng các thủ thuật khác nhằm hớng sự chú ý củahọc sinh vào những mục dạy Viết các cấu trúc/ từ mới lên bảng, làm rõ hình thái cấu trúc, giải thích Làm rõ thêm nghĩa và cách sử dụng bằng cách tiếp tục đa thêm các tìnhhuống hoặc các ví dụ Lặp lại tơng tự bớc 2 hoặc cho học sinh tái tạo theo gợi Kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh sử dụng các thủ thuật kiểm tra hiểunh gợí ý ở mục giáo viên nhận thấy học sinh đã làm tốt đợc bớc 6. thì có thể chuyển sangphần luyện tập sáng tạo hơn với các loại bài tập mang tính giao tiếp nhiên, cần phải lu ý rằng không phải lúc nào việc giới thiệu ngữ liệu cũngphải tuân theo tuần tự tiến trình trên. Ví dụ, ngay sau bớc 2, nếu giáo viên cảmthấy học sinh đã hiểu và có thể làm tốt các bài tập tái tạo thì có thể chuyển ngaysang bớc 6. Hoặc công việc của bớc 3. cũng có thể để lui lại để thực hiện vào cuốibài ở bớc củng cố bài, sau khi học sinh đã làm các bài tập thực Giới thiệu từ vựng - Những điểm lu ý thêmTiến trình giới thiệu ngữ liệu đợc trình bày ở trên có thể đợc coi là tiến trìnhchung cho việc giới thiệu ngữ liệu mới. Tuy nhiên, cách giới thiệu từ vựng cũngcó những đặc thù riêng. Phần này sẽ trình bày một số điểm cần lu ý khi giới thiệutừ Chọn từ để dạyThông thờng trong một bài học sẽ luôn luôn có từ mới. Song không phải từ mớinào cũng cần đa vào dạy nh nhau. Để lựa chọn từ để dạy, giáo viên cần xem xétcác câu hỏi sau a Từ chủ động hay từ bị động? Từ chủ động active/ productive vocabulary là những từ học sinh hiểu,nhận biết và sử dụng đợc trong giao tiếp nói và viết. Từ bị động passive/ receptive vocabulary là những từ học sinh chỉ hiểuvà nhận biết đợc khi nghe và dạy hai loại từ này có khác nhau. Từ chủ động liên quan đến cả 4 kỹ năngnghe, nói, đọc, viết, cần đầu t thời gian để giới thiệu và luyện tập nhiều hơn, đặc23biệt là cách sử dụng. Với từ bị động, giáo viên có thể chỉ dừng lại ở mức nhậnbiết, không cần đầu t thời gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên cần xácđịnh xem sẽ dạy từ nào nh một từ bị động và từ nào nh một từ chủ động. Với từ bịđộng, giáo viên có thể khuyến khích học sinh tự tìm hiểu nghĩa từ ví dụ tra từđiển, hoặc đoán từ qua ngữ Học sinh đã biết từ này cha?Giáo viên cần xác định rõ từ mình định dạy có thực sự là từ cần dạy haykhông. Vốn từ của học sinh luôn luôn đợc mở rộng bằng nhiều con đờng, vàcũng có thể bị quên bằng nhiều lý do khác nhau. Để tránh tình trạng giớithiệu những từ không cần thiết và mất thời gian, giáo viên có thể dùng nhữngthủ thuật nhằm phát hiện xem các em đã biết những từ đó cha và biết đến viên có thể dùng các thủ thuật nh eliciting; brainstorming; các thủ thuậtdùng ở các bớc 5 và 6 trong tiến trình giới thiệu ngữ liệu mới; hoặc có thểhỏi trực tiếp học sinh những từ nào là từ mới và khó trong Những thủ thuật làm rõ nghĩa từNgoài những thủ thuật giới thiệu nghĩa trong ngữ cảnh đã đề cập ở phần giớithiệu ngữ liệu chung, có thể sử dụng một số thủ thuật đặc thù cho từ vựng nha Dùng trực quan nh đồ vật thật trên lớp, tranh ảnh, hình vẽ phác hoạhình que, hình cắt dán từ tạp chí, cử chỉ điệu bộ Dùng ngôn ngữ đã học Định nghĩa, miêu tả; Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa; Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ; Tạo tình huống; Đoán nghĩa của từ trong ngữ cảnhc Dịch sang tiếng mẹ bớc tiến hành giới thiệu từ mới cũng tơng tự nh các bớc giới thiệu ngữ liệunói chung, song có thể đợc phối hợp nhanh thể là sau khi đã làm rõ nghĩa24và cách sử dụng từ, giáo viên sẽ tạo điều kiện cho học sinh thực hành ngay quacác bài tập ứng dụng phối hợp với các mẫu cấu trúc hoặc mẫu câu chức các bài tập thực hành này giáo viên đã cùng lúc kiểm tra đợc mức độ tiếp thubài của học Tăng cờng sự tham gia của học sinh ở bớc giới thiệu ngữ liệu mớiNh đã đề cập, điểm nổi bật ở phơng pháp mới là tạo cho học sinh đợc tham giavào quá trình giới thiệu ngữ liệu mới. Trong giai đoạn giới thiệu ngữ liệu mới, thông thờng giáo viên đóng vai tròchính, vai trò truyền thụ, học sinh đóng vai tiếp nhận, thụ động là chủ yếu. Tuynhiên, nếu giáo viên tạo đợc điều kiện cho học sinh tham gia vào quá trình này,kết quả tiếp thu bài của các em sẽ tốt hơn làm đợc điều đó, giáo viên cần tìm kiếm và sử dụng những thủ thuật phát huysự chủ động suy đoán, tự phát hiện của học sinh. Ví dụ, phát hiện và nhận biếtcấu trúc hay từ mới và tự rút ra mẫu cấu trúc của các mục ngữ pháp, hoặc đoánnghĩa từ trong ngữ cảnh, tự giải thích nghĩa từ bằng vốn từ có sẵn, cho từ đồngnghĩa, hoặc trái nghĩa, Sử dụng phối hợp các kỹ năng trong khi giới thiệu ngữ liệu mớiTrong quá trình giới thiệu ngữ liệu, giáo viên nên phối hợp nhiều các kỹ năng vớinhau để giới thiệu mục dạy, ví dụ giới thiệu qua nói, sau đó học sinh nghe vànhắc lại; học sinh nhìn mẫu đợc viết trên bảng, hoc sinh tái tạo qua nói, nghe, viết, đọc; học sinh xây dựng các bài hội thoại theo mẫu qua nói nghe trong nhóm sauđó viết lại hoặc ngợc lại, chuẩn bị qua viết, sau đó nói lại; học sinh viết các câutrả lời trên giấy trongOHP, sau đó đa ra trớc lớp để đợc nhận xét, Ví dụ minh hoạ Tiết dạy giới thiệu ngữ liệu - Unit 8, Lớp 6 xem phụ lục2.3. Luyện tập ngữ pháp 25 Download Free DOCXDownload Free PDFĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC MÔN ĐỌC HIỂU TIẾNG ANHĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC MÔN ĐỌC HIỂU TIẾNG ANHĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC MÔN ĐỌC HIỂU TIẾNG ANHĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC MÔN ĐỌC HIỂU TIẾNG ANHHa Doan NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THPT THEO HƯỚNG TÍCH CỰC 1 MỤC LỤC TT Nội dung 1 I. Đổi mới chương trình giáo dục THPT 2 1. Về chương trình giáo dục THPT 3 2. Về mục tiêu của giáo dục THPT 3 4 3. Về kế hoạch dạy học 5 4. Về đổi mới phương pháp dạy học 6 II. Đổi mới phương pháp dạy học 7 1. Dạy đọc hiểu 8 Quan điểm chung 9 Cấu tạo bài đọc hiểu 10 Quy trình dạy bài đọc hiểu 11 Một số lưu ý khi dạy kĩ năng đọc hiểu 12 Ví dụ triển khai dạy kĩ năng đọc hiểu 13 2. Dạy kĩ năng nói 14 Mục đích của dạy kĩ năng nói 15 Bản chất của dạy kĩ năng nói 16 Ba giai đoạn trong bài dạy nói 26 3. Dạy kĩ năng nghe 17 19 Các thủ thuật dạy nghe hiểu . Ba gia i đo ạn tro ng mộ t bài dạ y kĩ nă 2 Trang 3 3 4 7 12 12 12 14 16 19 19 22 22 22 23 26 27 ng tiế p nh ận 18 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 4. Dạy kĩ năng viết Dạy viết có kiểm soát Dạy viết có hướng dẫn Dạy viết tự do Chuẩn bị viết Học sinh viết Sau khi viết 5. Dạy kiến thức ngôn ngữ Dạy ngữ âm Dạy từ vựng Dạy ngữ pháp 30 30 31 31 32 33 33 34 34 36 39 Đổi mới giáo dục trung học phổ thông gắn bó chặt chẽ và thực chất là nằm trong khuôn khổ của đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, tuân thủ các định hướng, nguyên tắc chung của công cuộc đổi mới giáo dục. I. Đổi mới chương trình giáo dục trung học phổ thông Đổi mới chương trình giáo dục trung học phổ thông THPT trong quá trình triển khai đã quán triệt các định hướng, các nguyên tắc chung nhất đối với các cấp học khác đồng thời chú trọng những đặc điểm riêng của cấp học này. 1. Về chương trình giáo dục trung học phổ thông 3 Chương trình cấp trung học phổ thông quy định mục tiêu, kế hoạch giáo dục của cấp học với các giải thích cần thiết; các định hướng về phương pháp tổ chức giáo dục, đánh giá kết quả giáo dục, sự phát triển logic của các nội dung kiến thức ở từng môn học, lớp học. Chương trình cấp trung học phổ thông còn đề cập tới những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kĩ năng và thái độ trên các lĩnh vực học tập mà học sinh cần và có thể đạt được sau khi hoàn thành cấp học. 2. Về mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông Văn bản chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông đã trình bày mục tiêu cấp học theo Luật Giáo dục quy định “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.” Điều 27, mục 2, chương II, Luật Giáo dục- 2005 Căn cứ vào mục tiêu chung được luật định, mục tiêu cụ thể của cấp THPT được xây dựng, thể hiện qua yêu cầu học sinh học xong cấp THPT phải đạt được ở các mặt giáo dục tư tưởng, đạo đức lối sống; học vấn kiến thức phổ thông, hiểu biết kĩ thuật và hướng nghiệp; kĩ năng học tập và vận dụng kiến thức; về thể chất và xúc cảm thẩm mĩ. Cụ thể nội dung của mục tiêu cụ thể của giáo dục THPT có một số điểm mới cần được lưu ý như sau + Sống lành mạnh, tự tin, tự tôn dân tộc, có chí lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn; + Có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường, có khả năng ứng dụng một số thành tựu của công nghệ thông tin ở trình độ phổ thông trong giải quyết công việc; 4 + Phát triển và nâng cao các kĩ năng học tập chung, kĩ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống học tập mới, vào thực tiễn sản xuất và cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng. 3. Về kế hoạch dạy học Kế hoạch giáo dục là văn bản qui định thành phần các môn học trong nhà trường, trình tự dạy học các môn trong từng năm, từng lớp, số giờ dành cho từng môn học trong cả năm, trong từng tuần, cấu trúc và thời gian của năm học. Kế hoạch giáo dục của trường trung học phổ thông Số Môn học và th hoạt động ứ Lớp 10 KH KH Cơ Lớp 11 KH KH Cơ Lớp 12 KH KH Cơ TN TN TN XH- bản NV tự XH- bản NV XH bản N V 1 3 4 3 3,5 4 3,5 3 4 3 Toán Giáo dục công 4 1 3 1 3 1 4 1 3,5 1 3,5 1 4 1 3,5 1 3,5 1 2,5 2,5 1,5 1,5 1,5 2 2 3 2 2 1 1,5 2 2 2 4 2 2 1 1,5 1,5 2 2 3 2,5 2,5 1,5 1 1 2 2 3 2 2 1,5 2 1,5 2 2 4 2 2 1,5 1 1 2 2 3 3 2,5 2 1,5 1,5 1 2 3 2 2 1,5 2 2 1 2 4 2 2 1,5 1,5 1,5 1 2 3 Ngữ văn 2 3 dân 4 Vật lí 5 Hoá học 6 Sinh học 7 Lịch sử 8 Địa lí 9 Công nghệ 10 Thể dục 11 Tiếng nước ngoài 5 12 Tin học 13 Giáo dục quốc 2 2 2 1,5 1,5 2 1,5 2 4 2 1 2 1,5 1,5 35 tiết/năm 1,5 1,5 1,5 phòng và an ninh 14 Tự chọn 15 Hoạt động tập 1 2 thể 16 Hoạt động giáo 4 2 1,5 2 1,5 2 4 2 4 tiết/tháng dục ngoài giờ lên lớp 17 Giáo dục hướng nghiệp 18 Giáo dục nghề phổ thông Tổng số tiết/tuần Ghi chú 3 tiết/tháng Không học 30 30 3 tiết/tuần 30 28,5 30 Không học 30 29,5 30 - Kí hiệu KHTN có nghĩa là ban Khoa học tự nhiên, KHXH&NV là ban Khoa học xã hội và nhân văn. - Các số trong mỗi ô là số tiết trong một tuần của môn học hoặc hoạt động giáo dục tương ứng. Chương trình các môn học của trung học phổ thông gồm chương trình chuẩn của tất cả các môn học thể hiện những yêu cầu mang tính tối thiểu mọi học sinh cần và có thể đạt; chương trình nâng cao đối với 8 môn phân hoá Toán, Lí, Hoá, Sinh, Ngữ văn, Sử, Địa và Tiếng nước ngoài. Trong chương trình của từng môn, mục tiêu môn học được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của cả cấp học. Chương trình giới thiệu quan điểm chính của việc xây dựng lại chương trình môn học; trình bày chuẩn kiến thức kĩ năng môn học theo từng lớp và những gợi ý cần thiết về phương pháp, phương tiện dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn học của học sinh. 6 29,5 - Chương trình tự chọn Ngoài ra còn có hệ thống các chủ đề tự chọn cung cấp cho học sinh những cơ hội để củng cố, luyện tập kiến thức, kĩ năng có trong chương trình các môn học hoặc mở rộng, nâng cao đáp ứng nhu cầu của học sinh. Căn cứ vào vị trí, nhiệm vụ và đặc điểm của trường trung học phổ thông phân ban, quá trình xây dựng lại chương trình phải đảm bảo được các nguyên tắc chung đổi mới chương trình, đồng thời phải đảm bảo yêu cầu sau - Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của cấp học - Đảm bảo tính hệ thống, chỉnh thể và yêu cầu kế thừa trong việ hoàn thiện, phát triển nội dung học vấn phổ thông - Tiếp tục đảm bảo yêu cầu cơ bản, hiện đại, sát với thực tiễn Việt Nam - Đảm bảo tính sư phạm và yêu cầu phân hoá - Góp phần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học - Tiếp tục coi trọng vai trò của phương tiện dạy học - Đổi mới đánh giá kết quả quá trình học tập - Chú ý tới các vấn đề của địa phương 4. Về đổi mới phương pháp dạy học Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học. Chỉ có đổi mới căn bản phương pháp dạy và học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức. - Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII 1-1993, Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII 7 12-1996, được thể chế hoá trong Luật Giáo dục 2005, được cụ thể hoá trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 4-1999. Luật Giáo dục, điều đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. - Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực + Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Trong phương pháp tổ chức, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. + Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay 8 trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên. + Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc. Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng lớn. Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh. + Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Có thể so sánh đặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới như sau Quan Dạy học cổ truyền Các mô hình dạy học mới Học là quá trình tiếp thu Học là quá trình kiến tạo; học sinh niệm và lĩnh hội, qua đó hình tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện thành kiến thức, kĩ năng, tập, khai thác và xử lí thông tin, … tư tởng, tình cảm. Bản chất Truyền thụ tri tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. thức, Tổ chức hoạt động nhận thức cho truyền thụ và chứng minh học sinh. Dạy học sinh cách tìm ra chân lí của giáo viên. chân lí. Mục tiêu Chú trọng hình thành các Chú năng lực sáng tạo, hợp trọng tác, … dạy phương cung pháp và kĩ thuật lao 9 cấp tri động khoa học, dạy cách thức, kĩ học. Học để đáp ứng năng, kĩ những yêu cầu của cuộc xảo. Học sống hiện tại và tương để đối lai. Những điều đã học phó với cần thiết, bổ ích cho bản thi cử. thân học sinh và cho sự Sau khi phát triển xã hội. thi xong những điều đã học th- ường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến. Nội dung Từ sách giáo khoa + giáo Từ nhiều nguồn khác nhau SGK, viên GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế … gắn với - Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS. - Tình huống thực tế, bồi cảnh và môi trường địa phương. Phương - Những vấn đề học sinh quan tâm. Các phương pháp diễn Các phương pháp tìm tòi, điều tra, 10 pháp giảng, truyền thụ kiến giải quyết vấn đề; dạy học tương Hình thức một chiều. tác. Cố định Giới hạn trong Cơ động, linh hoạt Học ở lớp, ở thức tổ 4 bức tường của lớp học, phòng thí nghiệm, ở hiện trường, chức giáo viên đối diện với cả trong thực tế …, học cá nhân, học lớp. đôi bạn, học theo nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên -Những phương pháp dạy học tích cực cần đư ợc phát triển ở trường THPT Đổi mới phương pháp dạy học cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ thống phương pháp dạy học đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để giáo dục từng bước tiến lên vững chắc. Theo hướng nói trên, nên quan tâm phát triển một số phương pháp dưới đây. + Vấn đáp tìm tòi Vấn đáp đàm thoại là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Có ba phương pháp mức độ vấn đáp vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi. + Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu 11 giáo dục và đào tạo. Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phơng pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh. Dạy và học phát hiện, giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phương pháp dạy học, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với phương pháp dạy học. + Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ là mới với đa số giáo viên. ở những trường từng tham gia các dự án giáo dục dân số, giáo dục môi trường, phòng chống HIV/AIDS, lạm dụng ma tuý, giáo viên đã được làm quen với phương pháp này do các chuyên gia quốc tế hướng dẫn. Phương pháp dạy học hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia, nó như một phương pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng học sinh với sự việc chung của cả lớp. Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động. Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm, là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạy học, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới. 12 + Dạy học theo dự án Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong thực tiễn sản xuất, kinh tế- xã hội, đặc trưng của nó về cơ bản là tính không lặp lại của các điều kiện thực hiện dự án. Khái niệm dự án ngày nay được hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài chính, điều kiện vật chất, nhân lực và cần đợc thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra. Dự án được thực hiện trong những điều kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, có thể cần sự tham gia của giáo viên nhiều môn học. Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương trình hành động cụ thể,..... Những phương pháp gợi ý trên đây là chung cho nhiều môn học ở trường phổ thông. Tuỳ từng môn học có thể vận dụng một số phương pháp đặc thù khác. II. Đổi mới phương pháp dạy học 1. Dạy đọc hiểu Quan điểm chung Đọc hiểu là một trong những kĩ năng được quan tâm trong SGK. Tầm quan trọng của đọc được thể hiện ở chỗ nó được thiết kế như là điểm xuất phát của mỗi đơn vị bài học và được xếp ở tiết đầu tiên của mỗi đơn vị bài học A. READING. Nội dung bài đọc thường thể hiện chủ đề chính của đơn vị bài học ấy. 13 Các bài đọc trong SGK cố gắng khai thác hợp lí và triệt để hệ thống phương pháp dạy học ngoại ngữ tiên tiến thể hiện qua quan điểm lấy nhiệm vụ giao tiếp làm nền tảng. Mỗi bài đọc là một nhiệm vụ giao tiếp lớn task và được dạy trong một tiết trên lớp. Mỗi nhiệm vụ giao tiếp lớn được chia thành nhiều nhiệm vụ giao tiếp nhỏ sub-task và được thể hiện qua các bài tập của bài đọc. Các bài đọc trong SGK được biên soạn thông qua ba giai đoạn dạy học cơ bản The 3-stage process. Có hai cách thể hiện quan điểm dạy học theo quy trình ba giai đoạn  Pre-task introduction to topic and task  Through- task language analyisis and task  Post-task application  Pre-task introduction to topic and task  Task cycle task and planning report  Language focus analysis and practice Quan điểm dạy đọc hiểu vừa nêu ở trên được thể hiện trong SGK qua các tiêu đề Before you read While you read After you read Tuỳ từng điều kiện và hoàn cảnh dạy học đối tượng học sinh, độ khó hay dễ của bài đọc hoặc sở thích của giáo viên, GV có thể áp dụng các cách dạy nhằm đạt hiệu quả dạy học cao. Cấu tạo bài đọc hiểu Cấu tạo của các bài đọc hiểu trong SGK 10 là 14 Unit While you Before you read After you read read 15 1. Answer 1. Multiple choice Summary A day in the the sentences life of ... questions 2. Answer the questions 2. 3. Make a brief note Discussion 1. Find the meaning of Discussion School talks words in sentences 2. Find out who do what 3. Answer 3. Answer the questions 1. Match the words with Summary People’s the their meanings passage background questions 2. Decide T/F statements the words 4. 3. Answer the questions Discussion 1. Find the meaning of 3. using Scan Special words in sentences education 2. 5. Answer sentences passage 1. Complete the sentences Discuss Technology the using the words provided and you questions 2. the passage the & Multiple-choice complete the the question Multiple-choice sentences 3. Arrange the sequence of event Discussion 1. 6. Multiple-choice Fill in An excursion sentences 7. 2. Answer the questions the passage 1. Match the words with Discussion The media Answer mass the questions missing words in their meanings 2. Multiple-choice sentences 16 the 8. Answer 3. Answer the questions 1. Find the meaning of Discussion The story of the words my village 2. Read the passage and questions complete the table 3. Answer the questions Discussion 1. Complete the sentences Fill 9. in the Undersea using the words provided missing words in world 10. Answer 2. Answer the questions 1. Word definition the passage Answer Conservation the 2. Decide T/F statements questions 3. Choose the main idea 1. Word definition Discussion 11. questions National Answer parks the 2. Answer the questions 12. questions Descriptio 1. Complete the sentences Answer Music n using the words provided questions Answer 2. Answer the questions 1. Word definition Discussion 13. Film cinema and the questions 2. Answer the questions 3. Decide the title of the 14. The world Answer passage 1. Match the words with Summary cup the their meanings questions 2 Scan the text and complete the sentences. 15. Answer Cities the 3. Decide T/F statements Discussion 17 the the questions 1. Word definition 2. Decide T/F statements 3. Answer the 16. questions Answer 1. Find the meaning of Answer Historical the words places questions 2. Decide T/F statements the questions Qui trình dạy đọc hiểu Before you read * Mục đích Mục đích của các bài tập này là  Gây hứng thú, thu hút HS vào bài đọc;  Chuẩn bị hoặc trang bị một số hiểu biết, kinh nghiệm của HS có liên quan đến nội dung của bài đọc;  Giải quyết các khó khăn về ngôn ngữ hoặc kiến thức văn hoá, đất nước học;  Giúp HS đoán trước các thông tin có liên quan đến nội dung bài đọc sau đó. * Cách thức thực hiện 18  GV yêu cầu HS làm việc theo nhóm hoặc cặp nói về các tranh và thảo luận sử dụng các câu hỏi gợi ý trong SGK. Sau đó GV yêu cầu đại diện các nhóm/cặp phát biểu quan điểm của nhóm/cặp trước lớp, các nhóm/cặp khác nghe và cho ý kiến nhận xét.  GV có thể đặt thêm các câu hỏi, gợi có ý liên quan đến chủ đề của bài đọc để giúp HS có thêm các thông tin hoặc hiểu sâu thêm chủ đề của bài đọc. GV cũng có thể yêu cầu HS tham gia các hoạt động như động não, thảo luận, đố vui gắn với nội dung bài đọc. Các câu trả lời của HS có thể không đúng với nội dung bài đọc, điều đó không quan trọng vì mục đích chính của hoạt động này là gây hứng thú, cung cấp thông tin, những hiểu biết và kinh nghiệm có liên quan đến nội dung bài đọc sau đó.  Tìm từ, cấu trúc khó, mới liên quan đến bài đọc. HS có thể tìm 5-7 từ mới liên quan đến bài đọc, sau đó các em thảo luận để tìm nghĩa qua tra cứu từ điển, hoặc hiểu từ trong văn cảnh hoặc GV giải thích, … * Thời gian tiến hành từ 5-7 phút While you read Bài đọc hiểu trong SGK thường có độ dài khoảng 190-230 đơn vị từ vựng, được phân thành các đoạn ngắn và được viết bằng văn phong ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu cho đối tượng học sinh phổ thông. * Mục đích Mỗi loại bài tập sau bài đọc có mục đính khác nhau Bài tập 1 giúp SH hiểu nghĩa các từ/cụm từ có trong bài Bài tập 2 giúp HS hiểu sâu nội dung bài đọc Bài tập 3 giúp HS hiểu bao quát nội dung bài đọc 19 * Cách thức tiến hành Với loại bài tập thứ nhất GV yêu cầu HS làm việc theo cá nhân, cặp hoặc nhóm, đọc đoạn văn lần thứ nhất tập trung vào việc tìm kiếm từ, cụm từ, thông tin cụ thể và đoán nghiã của từ/cụm từ trong ngôn cảnh theo yêu cầu của từng bài tập cụ thể. Với loại bài tập thứ hai HS đọc sâu và đọc kĩ đoạn văn theo cá nhân lần thứ hai hiểu sâu và hiểu chi tiết văn bản, sau đó thảo luận trong nhóm hoặc cặp theo yêu cầu của các bài tập trong SGK. Với loại bài tập thứ ba HS đọc quýet theo cá nhân đoạn văn lần thứ ba tìm ý chính của cả bài hay mỗi đoạn theo cá nhân đoạn văn lần thứ ba, sau đó thảo luận trong nhóm hoặc cặp theo yêu cầu của các bài tập trong SGK. * Thời gian tiến hành từ 20-25 phút After you read * Mục đích Giúp HS tóm tắt lại bài đọc, củng cố lại kiến thức ngôn ngữ đã học và phát triển kĩ năng đọc hiểu thông qua việc liên hệ những điều đã học với cuộc sống thực tế. * Cách thức tiến hành  Kể tóm tắt ý chính của bài trong nhóm/cặp. Khi kể lại, HS sử dụng các thông tin đã thảo luận qua các bài tập đã làm trước đó.  HS thảo luận, đóng vai trong nhóm nhằm so sánh, đối chiếu những điều đã học với thực tế cuộc sống, bày tỏ quan điểm hoặc phê phán những điều đã đọc được.  Viết tóm tắt nội dung chính đoạn văn, so sánh, đối chiếu hoặc bầy tỏ quan điểm của mình về nội dung bài đọc. 20 Giáo viên chia học sinh thành từng cặp để em học giỏi kèm em học yếu nhằm giúp bạn nâng cao trình độ ảnh minh họa. Ảnh Đối với môn tiếng Anh, thay vì sau khi dạy xong vài bài thì giáo viên GV mới ôn tập cho học sinh HS kiểm tra một tiết, hoặc sau khi dạy xong một số bài nhất định nào đó mới tổ chức ôn tập để HS kiểm tra học kỳ… Đổi lại, GV nên giúp HS ôn tập ngay sau khi dạy xong một đơn vị bài học. Theo đó, khi thầy cô đã nắm trong tay danh sách các điểm ngữ pháp cần thiết nhất để giúp HS ôn tập thì phải bắt tay vào làm việc này trước. GV sẽ đánh máy toàn bộ các dạng bài tập được trích ra trong sách bài tập sẽ cho HS sử dụng tại lớp theo từng chủ điểm ngữ pháp. Để thực hiện được điều này, GV cần1. Lên kế hoạch cụ thểSau khi đã thống kê các dạng bài tập thuộc các điểm ngữ pháp cần phải ôn tập cho HS, GV sẽ yêu cầu các em chia cuốn tập ra từng phần riêng biệt theo từng điểm ngữ pháp đã chọn. Ví dụ 10 trang dành cho phần các thì và các dạng của động từ; 8 trang dành cho phần câu bị động; 5 trang dành cho phần giới từ… Khi dạy xong một đơn vị bài học, đã cho HS làm bài tập đầy đủ và đã giải đáp cẩn thận các yêu cầu của bài tập, GV sẽ yêu cầu các em về nhà liệt kê hết những loại bài tập có liên quan đến những điểm ngữ pháp chính. Để giúp cho HS không bị nhàm chán và không có cảm giác nặng nề thầy cô nên tổ chức cho các em hoạt động theo cặp. Một cặp HS cùng làm việc với nhau thì nên có trình độ khác nhau; GV nên động viên các bạn khá giỏi cần phải có tinh thần giúp đỡ bạn và thuyết phục các em để các em nhận ra rằng đây là một cơ hội tốt để tự nâng cao trình độ của mình khi nhận ra được lỗi sai của bạn. GV sẽ cho hai HS trong cùng một cặp trao đổi vở cho nhau; lần lượt thay phiên nhau đọc lên từng câu một để cùng kiểm tra xem bạn mình đã viết lại các câu ấy chính xác chưa. Lưu ý một điều là khi em nào phát hiện chỗ sai của bạn thì nên dùng bút đỏ sửa ngay lỗi sai đó. Trong khi HS làm công việc này, GV sẽ đi quanh lớp học để đảm bảo tính nghiêm túc của công việc. Bên cạnh đó GV sẽ đưa ra sự trợ giúp cần thiết nếu được các em yêu Phần ôn tập của HSGV yêu cầu HS về nhà ôn tập những điểm ngữ pháp nhất định nào đó theo qui định của bài kiểm tra. Lên lớp GV phát tài liệu cho HS làm để kiểm tra xem các em đã nắm kỹ bài chưa! Sau khi các em làm xong GV sẽ cho HS chấm chéo bài của nhau, vì đây là những bài tập HS đã từng làm rồi. Trong quá trình sửa bài GV nên yêu cầu HS dùng bút đỏ làm nổi bật lên những chỗ sai để các bạn sẽ chú ý tập trung và học kỹ những phần đó giúp HS thống kê những điểm ngữ pháp theo từng đơn vị bài học sẽ giúp các em nhìn lại toàn bộ kiến thức đã học, đã làm để qua đó các em có thể xem lại điểm ngữ pháp nào còn chưa vững nhằm kịp thời điều chỉnh ngay trước khi qua bài mới. Ngoài ra việc làm đi làm lại những dạng bài tập đã từng làm sẽ giúp cho các em nắm vững và nhớ lâu những kiến thức đã học. Nhờ đó sẽ cảm thấy tự tin khi làm bài kiểm tra. Biện pháp này còn giúp HS tự tích lũy cho bản thân một số vốn kiến thức căn bản cần thiết về ngữ pháp tiếng Anh. Ngoài ra trong mỗi một lớp học đều có những thành phần HS chậm hiểu hoặc HS lười biếng khiến cho tiến trình thực hiện công việc chắc chắn sẽ gặp không ít cản trở. Đối với những HS chậm hiểu thì khi phân cặp GV phải phân cho những HS đó làm việc cùng với những HS vừa giỏi, vừa cẩn thận, và phải thật sự tế nhị để không chạm tự ái và lòng tự trọng của bạn. GV cũng cần duy trì chặt chẽ việc cho HS cùng nhau đọc ra thành tiếng những bài tập mà các em đã sửa cho nhau; vì khi đọc lên như thế sẽ giúp cho kiến thức phản hồi ngược lại trong tâm trí HS như thế sẽ giúp các em nhớ lâu hơn phần kiến thức đã Thị Thúy Hằng GV Trường THCS Độc Lập, Phú Nhuận Ngày đăng 22/10/2013, 1111 PHÒNG GD&ĐT GIO LINH TRƯỜNG THCS TRUNG GIANG  Đổi mới phương pháp dạy học dạy học GV HỒ THỊ MINH SANG Tổ Năng khiếu Năm học 2010- 2011 I. TÊN ĐỀ TÀI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌCC TRONG VIỆC PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU, KÉM CỦA BỘ MÔN TIẾNG ANH  II. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Việc nâng cao chất lượng đối với bộ môn tiếng Anh tại các trường học, nhất là trường ở vùng nông thôn là một vấn đề quan trọng và cần thiết. Bởi do điều kiện sinh sống, ngoài một buổi đến trường, các em còn phải lao động phụ giúp gia đình, không có thời gian đầu tư cho bất kỳ môn học nào, nhất là bộ môn tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ. Cha mẹ các em thường không có thời gian, không đủ trình độ để kèm cặp thêm ở nhà. Đó là những nguyên nhân đã khiến tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng học sinh yếu kém Cho bộ môn tiếng Anh” * Một tiết học Tiếng Anh thật là nặng nề đối với các em . Cùng với sự đổi mới của chương trình và sự thiếu ý thức tự giác, độc lập, Tiếng Anh đến với các em thật không dể dàng , vì đây là lần đầu tiên các em tiếp xúc với bộ môn này. Thêm vào đó là sự thiếu quan tâm của các bậc phụ huynh và thiếu thời gian học tập, điều kiện học tập ở nhà. Phần lớn các em là con nhà nông, ngoài thời gian ở trên lớp, các em còn phải giúp bố mẹ trong công việc gia đình. Có nhiều em còn phải giúp bố mẹ với nhiều công việc nặng nhọc, cho n ên ảnh hưởng đến việc học ở nhà. Đa số gia đình các em còn khó khăn, nên việc tạo điều kiện cho các em một góc học tập đầy đủ thật khó. Ngoài ra một số các em chưa có ý thức tốt trong việc học. Coi việc học là đối phó với việc lấy điểm, lên lớp. Tất cả những yếu tố đó đã làm giảm đi khả năng tư duy, sáng tạo của các em. Nói như vậy không có nghiã rằng những học sinh bắt đầu học T iếng Anh không thể học được Tiếng Anh dể dàng như tiếng mẹ đẻ. Với vai trò là người dìu dắt, hướng dẫn bước đầu, bản thân giáo viên bộ môn phải tìm ra giải pháp tốt nhất để thầy và trò cùng đạt kết quả tốt trong môn học này. III. CƠ SỞ LÝ LUẬN - Tìm biện pháp “Nâng cao chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn tiếng Anh” là một vấn đề nan giải, rất cần thiết đối với đa số giáo viên bộ môn nói chung, đặc biệt là bộ môn tiếng Anh nói riêng. Vấn đề này đã được giáo viên trong tổ thảo luận nhưng chưa tìm được biện pháp hữu hiệu nhất. Vì thế, là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn tiếng Anh, qua nhiều năm thực hiện tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm trong việc dạy phụ đạo học sinh yếu kém có hiệu quả. IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN - Trường THCS Trung Giang là một trường thuộc vùng ven biển của huyện Gio linh , là một trong những xã có nhiều hộ nghèo nhất trong huyện nên học sinh còn nhiều vất vả, phải phụ giúp cha mẹ hàng ngày ngoài giờ học, trong khi cha mẹ không hiểu biết về bộ môn tiếng Anh. Phần lớn các em là học sinh nghèo, còn lam lũ, nhiều em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không người quan tâm, kèm cặp ở nhà. Qua thực tế ở trường, cụ thể là những bài kiểm tra định kỳ 15 phút, 1 tiết, các bài thi do Phòng giáo dục, Sở giáo dục ra đề chất lượng bộ môn tiếng Anh chưa cao. Trong khi một số em khá giỏi rất hứng thú với phương pháp học tiếng Anh mới này thì một bộ phận những em yếu kém vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng nên dễ dẫn đến việc các em trốn học, nghỉ học, hay chán nản không muốn học bộ môn này. Những học sinh yếu kém khi tiếp xúc với hình thức đề kiểm tra hoặc đề thi, các em thường không biết nội dung yêu cầu của đề bài. Ví dụ như chuyển câu sang thể phủ định hoặc nghi vấn; chia động từ trong ngoặc; đặt câu hỏi cho từ gạch dưới hoặc từ trong ngoặc. Với dạng bài tập đặt câu hỏi, đa số học sinh yếu kém không biết cách làm bài, các em thường làm sai, hoặc bỏ trống, không ghi gì cả…. Do đó làm cho tinh thần công tác của giáo viên sa sút vì số học sinh yếu kém bộ môn còn nhiều, một số giáo viên dạy tiếng Anh còn hạn chế về mặt thi đua cuối năm do chất lượng bộ môn chưa đạt với mặt bằng đề ra. - Trước tình hình trên đòi hỏi người giáo viên phải suy nghĩ bằng nhiều cách để nâng cao chất lượng bộ môn ngày một cao hơn. V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Bao gồm cả công tác tư tưởng và tổ chức quản lý lớp. Cả hai biện pháp này không thể tách rời mà cần được sắp xếp đan chéo nhau, được phối hợp hài hoà có chủ định vì công tác tư tưởng là biện pháp hàng đầu, còn biện pháp tổ chức quản lý là nhân tố quyết định. 1. CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG Như trên đã nói, đây là biện pháp hàng đầu để hỗ trợ cho biện pháp quyết định là tổ chức và quản lý học sinh. Thế nên trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn tiếng Anh đã coi trọng công tác tư tưởng bằng các việc làm sau a. Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình Học sinh ở trường THCS Trung Giang yếu kém môn tiếng Anh có nhiều hoàn cảnh đặc biệt, nhiều em mồ côi, cha mẹ ly hôn, các em phải sang ở với ông bà , cô dì….Một số ít là con được nuông chìu, được cha mẹ bao che các lỗi lầm. Các em có những đặc điểm tâm lý riêng, thế nên tôi thường thăm dò hoàn cảnh gia đình của các em qua sơ yếu lý lịch, bạn bè gần nhà, giáo viên chủ nhiệm và tìm ra biện pháp giáo dục thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng học tập của các em. b. Duy trì sỉ số Đi học đầy đủ là điều kiện tất yếu để học sinh học tốt. Cần quan tâm đến việc vắng mặt của học sinh trong lớp, vì phần lớn những học sinh trốn tiết, bỏ tiết là những em học yếu, chán học, sẽ có nguy cơ nghỉ học luôn. Những trường hợp như thế, giáo viên bộ môn cần thông báo kịp thời cho giáo viên chủ nhiệm để báo cho phụ huynh học sinh ngay, nhằm giúp các em chấn chỉnh lại, đưa các em trở lại lớp học. c. Xây dựng tốt mối quan hệ Thầy trò Học sinh yếu kém thường mang nhiều mặc cảm. Các em có hai mặt tâm lý đối nghịch nhau một số em quậy phá, nghịch ngợm, trốn học , bỏ tiết và một số em rút vào cái vỏ của mình qua những biểu hiện như nhút nhát, không phát biểu, xa lánh bạn bè, thầy cô. Biện pháp cần đặt ra ở đây là giáo viên phải thường xuyên quan tâm đến các em, gần gũi , trò chuyện, nâng đỡ các em, đôi lúc cũng phải cứng rắn quở phạt các em. Học sinh yếu thường phạm nhiều khuyết điểm kéo dài cả về học tập lẫn đạo đức, chúng ta không thành kiến với các em, không vội vàng cho điểm xấu mà phải tìm cách giúp đỡ để các em vượt qua khó khăn, ham thích học tập hơn. d. Nêu tấm gương sáng Chọn những em tiêu biểu nêu gương, mẫu cho các em noi theo. Khen thưởng những em yếu kém có tiến bộ dù chỉ 0,25 điểm nhằm khích lệ, động viên tinh thần của các em. e. Tìm hiểu, đóng góp ý kiến với cha mẹ học sinh Nhà trường và gia đình là cầu nối quan trọng trong việc học tập của các em. Cha mẹ phải thực sự là một “giáo viên” ở nhà, nhắc nhở các em chuẩn bị bài, học bài và hướng dẫn làm bài tập nếu được. Cha mẹ phải quan tâm đến con cái, phải sống lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. Giáo viên bộ môn ít có dịp gặp trực tiếp cha mẹ học sinh. Do đó, chúng ta phải kịp thời báo những vi phạm của học sinh mình qua giáo viên chủ nhiệm để nhờ họ liên hệ phụ huynh, nếu cần có thể gặp gỡ họ trực tiếp để trao đổi một số vấn đề có liên quan. f. Tinh thần, trách nhiệm của người thầy Cũng như cha mẹ học sinh, người thầy cũng phải gương mẫu, là tấm gương cho học sinh noi theo. Người thầy phải có tinh thần trách nhiệm cao, không thành kiến bỏ rơi một học sinh nào. Luôn tìm tòi học hỏi không ngừng để cải tiến phương pháp, dùng nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. 2. CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỌC SINH YẾU KÉM a. Đánh giá chất lượng học tập của học sinh Nhằm đánh giá đúng mức độ học tập của học sinh, vào đầu năm học nhà trường thường tổ chức kiểm tra chất lượng đầu năm . Từ đó , giáo viên bộ môn có thể phân học sinh ra làm 5 nhóm giỏi - khá - trung bình - yếu- kém. Từ đó , giáo viên bộ môn lập danh sách theo dõi học sinh yếu kém , quan sát hàng ngày , ghi nhận kết quả qua từng kỳ kiểm tra. Muốn theo dõi chất lượng học tập của học sinh yếu kém một cách chính xác, giáo viên phải thực sự nghiêm túc trong việc coi và chấm trả. Việc làm này có đúng đắn, chúng ta mới nắm được các mặt tồn tại của học sinh để kịp thời phụ đạo bổ sung. Mỗi giáo viên bộ môn đều có trong tay sổ “ Theo dõi sự tiến bộ của học sinh”. STT Họ và tên Kết quả Đầu HKI Giữa HKI Cuối HKI Giữa HKII CuốiHKII b. Phụ đạo học sinh yếu kém Đây là một công tác cần phải có đối với những học sinh yếu kém. Ngay từ bài khảo sát chất lượng đầu năm và căn cứ vào tình hình học tập ở lớp dưới, giáo viên bộ môn có thể lập danh sách những em dưới trung bình để có thể cho vào lớp phụ đạo. Một học sinh yếu kém có tiến bộ hay không là nhờ vào sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba môi trường nhà trường – gia đình – xã hội. Dựa vào danh sách học sinh yếu kém của từng lớp, Ban Giám Hiệu nhà trường tổ chức một buổi họp mặt phụ huynh của những em yếu kém đó nhằm thông báo cho phụ huynh về việc học tập của con em mình. Qua đó đa số phụ huynh đều đồng tình với việc phụ đạo cho con em họ. Nhờ có sự tổ chức quản lý của Ban Giám Hiệu nhà trường, việc dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém một phần nào đó cũng góp phần nâng cao chất lượng học tập. Trong quá trình dạy phụ đạo, tôi thường phân chia các em yếu ra từng nhóm khác nhau yếu về từ vựng hay yếu về ngữ pháp. Ở nhóm yếu về từ vựng, đa số các em không biết cách học từ vựng, không biết từ loại của từ, học mà không nhớ rõ nghĩa, hoặc nhớ nghĩa mà không thuộc từ. Đối với học sinh nhóm này, tôi yêu cầu các em mỗi ngày học ba từ vựng. Vào 15 phút đầu giờ, tôi nhờ cán sự bộ môn và một số em học giỏi trong lớp đi kiểm tra những em yếu từ vựng này và báo kết quả lại cho tôi. Đến ngày học phụ đạo lần sau, tôi sẽ kiểm tra tất cả từ vựng mà tôi đã yêu cầu các em học trong một tuần. Làm được như thế, đối với một em chịu học từ vựng một cách nghiêm túc thì chẳng bao lâu lượng từ vựng trong trí nhớ của các em sẽ được nâng lên rất nhiều. Riêng các em yếu về ngữ pháp, tôi sẽ phụ đạo cho các em theo từng loại hình bài tập khác nhau chia động từ trong ngoặc, chuyển câu sang thể phủ định hoặc nghi vấn, đặt câu hỏi với từ gạch dưới hoặc từ trong ngoặc… Trước khi đưa ra dạng bài tập nào đó, tôi thường dành 15 phút đầu giờ để nhắc lại những kiến thức cơ bản về phần ngữ pháp đó. Chẳng hạn, hôm nay tôi muốn yêu cầu học sinh làm bài tập chia động từ ở thì quá khứ đơn, trước khi đưa lên bảng một số câu cụ thể, tôi nhắc lại phần lý thuyết cơ bản. *Thì quá khứ đơn The Simple Past Tense Công thức Cách dùng Để diễn tả một hành động hay một sự việc đã xảy ra tại một thời điểm xác định ở quá khứ và chấm dứt trong quá khứ, thường đi kèm với các trạng từ sau last…, …ago, yesterday, before, in 2009… Chú ý Nếu động từ có qui tắc -> ta thêm –ED Nếu động từ bất qui tắc -> ta chuyển sang cột hai trong bảng động từ bất qui tắc. Nhắc lý thuyết trước như thế thì khi áp dụng làm bài tập, nhìn vào câu thấy có những từ đi kèm như yesterday, last Sunday, three years ago…thì các em dễ dàng chia động từ được ngay. Ex Exercise B 1 / – English Workbook 7 Complete the sentences with the simple present or simple past tense of the verbs b. She …… forget to brush her teeth yesterday. c. Last week the doctor ………… fill a cavity in my eighth tooth. ……………………………………………………………………………… h. Lan ………… have a health examination last month. Dựa vào những từ đã được học yesterday, last …, ….ago,học sinh có thể làm tốt như b. forget->forgot c. fill-> filled ……………………………………………………………………………… h. have-> had Và điều quan trọng khi làm bài tập dạng này là giáo viên bộ môn phải yêu cầu học sinh học thuộc lòng tất cả các động từ bất qui tắc. *Đối với dạng bài tập chuyển câu sang thể phủ định hoặc nghi vấn, giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau Bước 1 xác định chủ từ, động từ. Bước 2 xác định thì của động từ. Bước 3 xác định loại động từ động từ thường hay động từ đặc biệt; động từ có qui tắc hay động từ bất qui tắc nếu ở thì quá khứ. Ex Exercise B2/ P. 56 – English Workbook 7 Complete the sentences with the verbs in the negative g. We returned home in the evening. We……………home in the afternoon. S Đây là loại bài tập hoàn thành câu với động từ ở thể phủ định, nói cách khác đây là loại bài tập chuyển câu sang thể phủ định. Muốn làm được bài này, giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau - Xác định động từ returned - Xác định thì của động từ quá khứ đơn S+ V ed / V 2 + O - Xác định loại động từ động từ thường có qui tắc Muốn chuyển câu sang thể phủ định, chúng ta nên mượn trợ động từ vì động từ chính là động từ thường; vì câu chia ở thì quá khứ đơn nên trợ động từ cần mượn là“ did”, câu phủ định phải thêm “not”. Khi mượn trợ động từ thì động từ chính phải trả về nguyên mẫubỏ – ed. Vậy đáp án cho câu này là “ We didn’t return home in the afternoon” * Exercise A3/ p54 – English Workbook 7 Write the questions Ex a/ I went to Vung Tau for last Tet vacation. S V 2 Đây là dạng bài tập chuyển câu sang thể nghi vấn, để giúp học sinh làm được bài này, giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau - Xác định chủ từ, động từ I , went - Xác định thì của động từ quá khứ đơn - Xác định loại động từ động từ thường bất qui tắc Với động từ thường ở thì quá khứ đơn, chúng ta mượn trợ “Did”. Vậy để chuyển câu này sang thể nghi vấn, ta thêm “Did” ở đầu câu và “went” trả về nguyên mẫu là “go”. Khi đó, ta có Did you go to Vung Tau for last Tet vacation? * Một dạng bài tập khác đặt câu hỏi với từ gạch dưới Với loại bài tập này, giáo viên cần giúp học sinh thực hiện theo các bước sau - Xác định từ để hỏi cho từ hoặc cụm từ được gạch dươí. - Xác định chủ từ, động từ. - Xác định thì của động từ. - Xác định loại động từ. Ex Exercise A2 / P 69 – English Workbook 7 Write the question for the answer e. I visited the dentist because I had a terrible toothache Để làm được bài tập này, học sinh cần thực hiện các bước sau - Xác định từ để hỏi cho cụm từ được gạch dưới “Why?” - Những bước tiếp theo làm tương tự như chuyển câu sang thể nghi vấn, nhưng khác một điểm nhỏ là chuyển câu sang thể nghi vấn thì ta sẽ viết lại hết nguyên câu, nhưng đặt câu hỏi với từ gạch dưới, ta đặt từ để hỏi ở đầu câu, chuyển câu đó sang thể nghi vấn nhưng phải bỏ đi từ hoặc cụm từ được gạch dươí. Cụ thể là I visited the dentist because I had a terrible toothache S ->Why did you visit the dentist? *Tương tự như đặt câu hỏi với từ gạch dưới, đối với loại bài tập đặt câu hỏi với từ cho sẵn trong ngoặc, giáo viên cần giúp học sinh thực hiện các bước sau - Xác định từ để hỏi dùng để hỏi cho từ hoặc cụm từ nào? cho cái gì? VD What? -> hỏi về vật , sự việc Who ? -> hỏi về người Where? -> hỏi về nơi chốn When? -> hỏi về thời gian Why? -> hỏi về nguyên nhân , lý do và - Xác định chủ từ, động từ. - Xác định thì của động từ. - Xác định loại động từ. Ex Exercise B3/ p. 56 – English Workbook 7 Write the questions with Wh- words b. We decorated our classroom on Saturday evening When? Giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện các bước sau - When? dùng để hỏi về thời gian, vậy nó hỏi cho cụm từ “on Saturday evening” đối với học sinh yếu kém, giáo viên cần nói thêm khi ta dùng “When” để hỏi thì cụm từ “ on Saturday evening” sẽ được bỏ đi - Những bước tiếp theo sẽ được làm tương tự như khi chuyển câu sang thể nghi vấn. Vậy đáp án chính xác là “When did you decorate your classroom?” Đối với mỗi loại bài tập được nêu trên , giáo viên nên “ model” làm mẫu cho các em xem một câu, những câu còn lại tương tự, chúng ta có thể yêu cầu học sinh lên bảng làm và giúp đỡ các em nếu thấy còn lúng túng. Cần chỉ cho các em biết cách phân biệt giữa yêu cầu chuyển sang nghi vấn và phủ định nghi vấn thì có từ “Question”, còn thể phủ định có từ “Negative”, đặt câu hỏi với từ gạch dưới hay từ trong ngoặc… Phụ đạo học sinh yếu kém chủ yếu là cho các em làm những dạng bài tập cơ bản. Khi các thao tác đã nhuần nhuyễn, giáo viên bộ môn có thể cho các em làm quen với các dạng đề kiểm tra, đề thi học kỳ để các em có được những kỹ năng làm bài tốt hơn. Mỗi một buổi dạy phụ đạo là một loại hình bài tập khác nhau. Sau 4 tiết phụ đạo sẽ có một bài kiểm tra xem mức độ hiểu bài của các em có tiến triển không? Các em có làm được bài tập đã học chưa? Nhờ biện pháp này mà nhiều năm qua, khi nhìn đề kiểm tra của trường, Phòng giáo dục ra đề, tôi có thể đoán gần chính xác số học sinh trên, dưới trung bình ở các lớp mình đang giảng dạy. c. Ý kiến của các giáo viên bộ môn Anh văn Nguyên nhân học sinh yếu kém bộ môn này do đa số lười học bài, một số có khả năng tiếp thu kém, học sau quên trước do lượng từ vựng rất nhiều. d. Về chỗ ngồi của học sinh, giáo viên bộ môn cần lưu ý Có một thời gian tôi thường xếp học sinh yếu kém ngồi kế bên em học khá giỏi trong lớp, nhưng đã thất bại vì có lắm tình trạng em giỏi học thay cho em yếu kém nhắc bài, cho bạn yếu chép bài làm của mình… Học sinh yếu kém thường chán học, lo ra, nên “ưu tiên” xếp các em ngồi ở những bàn trên, em cao to ngồi bên trong để không che khuất các em nhỏ bên dưới, ngồi gần giáo viên các em có tâm lý lo sợ, không dám xao lãng trong giờ học. e. Sách vở Sách vở rất cần thiết trong việc học ở nhà, chuẩn bị bài tốt cho tiết học tới. Do đó phải thường xuyên kiểm tra sách vở của nhóm yếu kém này. Giáo viên bộ môn nên phân công học sinh giỏi bộ môn cán sự bộ môn có tập vở sạch đẹp, đúng yêu cầu để kiểm tra sách vở, góp ý với bạn và báo cáo cho giáo viên. Kiểm tra và tự kiểm tra lẫn nhau của học sinh làm giảm nhẹ lao động của giáo viên, mà vẫn bảo đảm chính xác. Giáo viên bộ môn chỉ còn nhiệm vụ bao quát và thỉnh thoảng gọi một vài học sinh yếu kém bất kỳ để kiểm tra lại. Phát hiện ngay từ đầu những học sinh không đủ sách vở cần thiết theo yêu cầu bộ môn để buộc các em mua. Đối với những em nghèo, khó khăn, giáo viên có thể mượn sách ở thư viện thay cho các em. f. Kiểm tra Kiểm tra thường xuyên và giúp đỡ cụ thể rất cần thiết cho các em yếu kém, vì những em này với tâm lý chán học, nếu không kiểm tra các em sẽ chẳng chịu học gì cả. Biện pháp Nhờ cán sự bộ môn truy bài vào 15 phút đầu giờ, nếu hôm đó có tiết Anh văn. Giáo viên kiểm tra các em thường xuyên bằng nhiều hình thức miệng, viết, trắc nghiệm. Phát hiện những em lệch lạc, có chuyển biến nên ghi vào sổ theo dõi tình hình học tập bộ môn. Kiểm tra ngắn gọn ngoài giờ học chính thức để khỏi mất thời gian trong tiết học. Gạt bỏ quan niệm chỉ cho điểm kiểm tra theo số cột qui định là đủ. Quan niệm này thường dẫn đến tình trạng học sinh được kiểm tra rồi sẽ ỷ lại, không học bài nữa. Biện pháp kiểm tra thường xuyên phải được làm từ lớp dưới, để phát hiện được chỗ yếu kém của học sinh và kiên trì, bổ sung những lỗ hỏng kiến thức thì các em mới có thể tiếp thu một cách vững vàng kiến thức ở lớp trên. Giáo viên chúng ta thường chú ý đến khâu soạn bài, lên lớp đủ các bước, dạy đúng phân phối chương trình là biểu hiện chỉ tốt ở bước đầu. Vấn đề tổ chức học sinh học tập trong lớp, ở nhà giữ một vai trò quan trọng. Thế nên lấy biện pháp kiểm tra thường xuyên, phát hiện học sinh học bài, làm bài, cải tiến cách học như thế nào có hiệu quả là điều cấp thiết để nâng cao chất lượng học tập của học sinh. g. Dự giờ thao giảng Dự giờ , quan sát , ghi chép , học tập kinh nghiệm của các giáo viên trong tổ để bổ sung những thiếu sót về phương pháp, về quản lý học sinh yếu kém trong tiết học. Qua các lần kiểm tra các sản phẩm của học sinh ,ta thấy không phải lúc nào số lượng yếu kém cũng giảm theo từng thời kỳ lần 2 số yếu kém ít hơn lần 1, lần 3 giảm hơn lần 2… VI. PHẦN KẾT LUẬN Tìm biện pháp “ Nâng cao chất lượng học tập của học sinh yếu kém” là vấn đề tôi nghĩ mọi giáo viên đều quan tâm. Các giáo viên bộ môn Anh văn nói riêng và tất cả giáo viên bộ môn ở trường THCS Trung Giang nói chung cũng đã áp dụng toàn bộ hoặc một số biện pháp tương tự như trên. Nhưng muốn thành công trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh ở bộ môn mình đồng đều, giáo viên đóng vai trò quyết định, vì thực hiện các biện pháp trên rất mất thời gian, và kéo dài cả năm học, giáo viên phải kiên trì với quyết tâm “Tất cả vì học sinh thân yêu”.Làm được như thế chắc chắn chúng ta sẽ được đền bù xứng đáng từ những “sản phẩm yếu kém” đầu năm của chúng ta đến cuối năm trở nên khá hoàn hảo. Qua đề tài nghiên cứu này, chắc chắn tôi chưa đưa ra được hết các biện pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh, nhất là học sinh yếu mong nhận được sự ủng hộ của lãnh đạo cấp trên , ý kiến đóng góp xây dựng của quý đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh nghiệm, học hỏi nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân. TRUNG GIANG NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 2010 .  Đổi mới phương pháp dạy học dạy học GV HỒ THỊ MINH SANG Tổ Năng khiếu Năm học 2010- 2011 I. TÊN ĐỀ TÀI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌCC TRONG VIỆC PHỤ ĐẠO HỌC. “Nâng cao chất lượng học sinh yếu kém Cho bộ môn tiếng Anh * Một tiết học Tiếng Anh thật là nặng nề đối với các em . Cùng với sự đổi mới của chương trình - Xem thêm -Xem thêm Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh, Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh,

đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh